- Tranh chấp gì? "Nguyễn Hữu Thành đưa vào cơ sở khai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NHT.
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/QĐ-TA | P, ngày 08 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Tố Uyên
2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Lệ Quyên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 25/QĐ-TA ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với:
Họ và tên: NHT, sinh ngày 10/7/1991; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12;
Nơi ĐKHKTT: 10/7 QT, tổ 6, phường TS, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở hiện nay: Không có chỗ ở nhất định.
Tiền án: Ngày 25/4/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm tại bản án số: 24/HS-PT ngày 25/4/2007 về tội Cướp tài sản.
Tiền sự: năm 2015 bị Công an phường TS xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; năm 2017 bị Công an phường TS xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Con ông N HH – sinh năm 1966 và bà N TH – sinh năm: 1970.
(Vắng mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Trần Thị Minh - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số 25/UQ-LĐTBXH ngày 08/8/2022).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
NHT là đối tượng nghiện ma túy, không xác định nơi cư trú, sống lang thang không có nơi ở cố định. NHT sử dụng ma túy từ đầu năm 2020, loại ma túy mà NHT sử dụng là loại ma túy Heroin. Ngày 10/7/2022 NHT có hành sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 14/7/2022 NHT tự nguyện đến Công an phường TS, thành phố P khai báo và lập biên bản vi phạm hành chính. Tại Phiếu xét nghiệm số 11/XN ngày 14/7/2022 NHT dương tính với nhóm thuốc phiện (Heroin).
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NHT với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Áp dụng điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết: Chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NHT, thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại Điều 40, Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 42 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường TS, thành phố P lập hồ sơ đối với đối tượng NHT là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng NHT được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
NHT là đối tượng nghiện ma túy, không xác định nơi cư trú, sống lang thang không có nơi ở cố định. NHT sử dụng ma túy từ đầu năm 2020, loại ma túy mà NHT sử dụng là loại ma túy Heroin. Ngày 10/7/2022 NHT có hành sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày 14/7/2022 NHT tự nguyện đến Công an phường TS, thành phố P khai báo và lập biên bản vi phạm hành chính. Tại Phiếu xét nghiệm số 11/XN ngày 14/7/2022 NHT dương tính với nhóm thuốc phiện (Heroin).
Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NHT là phù hợp.
Căn cứ vào các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và Luật số 67/2020/QH14 luật sửa đổi bổ, sung một số điều của luật xử lý vi phạm hành chính 2020.
Căn cứ Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Căn cứ Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021của Chính phủ.
Căn cứ vào các Điều 2, 3, 22, 23, 24,, 29, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào các Điều 40, 41, 41 và 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NHT.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, NHT có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.
| Nơi nhận: - NHT; - Công an thành phố P; - Phòng LĐ-TB&XH TP. P; - UBND phường TS; - VKSND thành phố P; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN ĐÃ KÝ Trần Thị Tố Uyên |