vanban.org

Quyết định 25/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tòng Văn T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân hu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tòng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/QĐ-TAN, ngày 24 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Sao

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/2023/QĐ-TA, ngày 18 tháng 4 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Tòng Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 23/8/1991; Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12;

Nơi cư trú: Bản T, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên;

Số CCCD: 011091006564; ngày cấp 11/8/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.

Tiền án: Có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Tiền sự: Không;

Con ông Tòng Văn C và bà Vàng Thị X.

Người bị đề nghị Tòng Văn T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N: Ông Lê Văn Thành – Phó Trưởng Phòng, có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Điện Biên: Ông Phùng Việt Hùng

- Kiểm sát viên, có mặt.

NHẬN THẤY:

Tòng Văn T tái nghiện ma túy từ năm 2021. Ngày 27/3/2023, Tòng Văn T có đơn đề nghị Trạm Y tế xã S xác định tình trạng nghiện ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, ngày 28/3/2023 của Trạm Y tế xã S đã xác định Tòng Văn T dương tính với ma túy, loại ma túy T sử dụng là Heroine. Cùng ngày 28/3/2023, Công an xã S đã ra Thông báo số 02/TB-CAX về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện đối với Tòng Văn T. Tuy nhiên, hết thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòng Văn T nhận được thông báo nhưng T không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 05/4/2023, Ủy ban nhân dân xã S đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện số 02/BB-VPHC và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện N có ý kiến: Tòng Văn T là người nghiện ma túy nhưng T không tự nguyện đăng ký cai nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của T và trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T, để T cai nghiện, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Điện Biên.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Tòng Văn T đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Phòng, chống ma túy và Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. . Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án nhân dân huyện N đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện N chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện N, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Tòng Văn T với thời hạn với thời hạn là từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp người bị đề nghị Tòng Văn T có ý kiến: Tòng Văn T là người nghiện ma túy, T nhất trí đi cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy:

[1] Về thẩm quyền: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N là cơ quan đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Tòng Văn T. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án dân dân, Tòa án nhân dân huyện N thụ lý, xem xét, quyết định là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC, ngày 05/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã S đối với Tòng Văn T về cai nghiện ma túy tự nguyện, ngày 11/4/2023 Tòa án thụ lý hồ sơ nên vẫn còn thời hiệu áp dụng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Về nội dung xem xét: Tòng Văn T có nơi cư trú ổn định tại bản Tân Lập, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên và là người tái nghiện ma túy từ năm 2021. Tòng Văn T đã được Công an xã S thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng hết thời hạn thông báo, T không đăng ký. Căn cứ khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy, Tòng Văn T là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Về thành phần hồ sơ đề nghị gồm: Biên bản vi phạm việc cai nghiện ma túy tự nguyện; bản tóm tắt lý lịch của Tòng Văn T; 01 Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã S; 01 bản tường trình của Tòng Văn T; Văn bản thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị; Văn bản đề nghị của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã S; Văn bản đề nghị của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện N. Căn cứ vào Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì hồ sơ đề nghị đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định.

Xét thấy, Tòng Văn T là người đã thành niên, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn nghiện ma túy và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên phải chịu trách nhiệm về hành vi sai phạm. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T một thời hạn nhất định, để T cai nghiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tòng Văn T có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, không có tiền sự. Quá trình làm việc Tòng Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tòng Văn T không có tình tiết tăng nặng.

Đối với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, ý kiến của Tòng Văn T là phù hợp, Tòa án nhân dân huyện N chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 23, khoản 1 Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì hồ sơ đề nghị đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tòng Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Tòng Văn T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện N có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N phối hợp với Công an huyện N đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Điện Biên, địa chỉ: C1, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

Cỡ chữ