vanban.org

Quyết định 25/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn. Về con: Cháu Nguyễn Hải Yến, sinh ngày 19/4/2002 (Đã trên 18 tuổi, có chồng, có con nên không đề cập giải quyết); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐ công nhạn TTLH giữ chị Ng và anh T"
  • Tòa quyết gì? I. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC THUỶ
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2024/QĐST-HNGĐLạc Thuỷ, ngày 11 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN

THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 44/2024/TLST-VDS ngày 24/6/2024, về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Chị Đặng Thị Ng, sinh năm 1980;

ĐKNKTT: Đồng Phú, Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình.

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977;

ĐKNKTT: Đồng Phú, Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn, nhưng chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay cả hai thuận tình ly hôn và yêu cầu Tòa án công nhận. Xét yêu cầu trên là phù hợp căn cứ luật định, nên công nhận.

Về con: các đương sự có 02 con chung là: Nguyễn Hải Yến, sinh ngày 19/4/2002 (Đã trên 18 tuổi, có chồng, có con nên không yêu cầu giải quyết); Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 15/3/2008.

Nay thỏa thuận giao cháu Nguyễn Lan Anh cho mẹ là Đặng Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chưa yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thỏa thuận trên phù hợp pháp luật và thực tế, nên công nhận.

Về tài sản chung: các đương sự cho rằng vợ chồng có 02 thửa đất, gồm:

+ Mảnh đất bố mẹ chồng cho chung vợ chồng tôi từ năm 2012, diện tích 77 m2; đã được UBND huyện Lạc Thủy cấp GCNQSDĐ số BD 242381 (Thửa số 4 – 1a tờ bản đồ số 2), tại thôn Đồng Phú, Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình. Trên đất đã xây được ngôi nhà 02 tầng và 01 tum. Nay Chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T tự nguyện thỏa thuận chia cho anh T sử dụng toàn bộ thửa đất và sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất nêu trên. + Chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T và hai con (Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Lan Anh) cho rằng vợ Ng T mua thửa đất của chị Đỗ Thị Thanh Hường đã được UBND huyện Lạc Thủy công nhận, cấp GCNQSDĐ mang số BK 966813 (Thửa đất số 304 tờ bản đồ 04 khu 11-12, thị trấn Chi Nê, Lạc Thủy, Hòa Bình). Trên đất đã xây nhà tạm. Nay chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T và hai con (Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Lan Anh) tự nguyện thỏa thuận chia cho hai con chúng (Hải yến, Lan Anh) quyền sử dụng toàn bộ thửa đất và có quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản trên đất nêu trên.

Sự tự nguyện thỏa thuận của gia đình các đương sự phù hợp pháp luật, đạo đức xã hội, được công nhận.

Ngoài ra, các đương sự khẳng ddihj gia đình còn một số tài sản khác nhưng không kê khai và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.

Các đương sự khẳng định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nay không xét.

Về lệ phí: Các đương sự thỏa thuận để chị Đặng Thị Ng chịu toàn bộ lệ phía Tòa án là 150.000 đồng; đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0001933 ngày 24/6/2024, còn thừa lại 150.000 đồng nay chị Ng tự nguyện không lấy lại. Thỏa thuận trên phù hợp pháp luật, được chấp nhận

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn.

2. Về con: Cháu Nguyễn Hải Yến, sinh ngày 19/4/2002 (Đã trên 18 tuổi, có chồng, có con nên không đề cập giải quyết);

Giao cháu Nguyễn Lan Anh, sinh ngày 15/3/2008 cho mẹ là Đặng Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng; các đương sự chưa yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T được đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

3.Về tài sản chung: công nhạn sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự như sau:

- Chia cho anh Nguyễn Văn T sử dụng toàn bộ thửa đất số 4 – 1a tờ bản đồ số 2, tại thôn Đồng Phú, Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình (Đã được UBND huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình cấp GCNQSDĐ số BD 242381 và có quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản gắn liền với đất đó.

- Chia cho hai con của chị Đặng Thị Ng, anh Nguyễn Văn T là Nguyễn Hải Yến và Nguyễn Lan Anh quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 304 tờ bản đồ 04 tại khu 11-12, thị trấn Chi Nê, Lạc Thủy, Hòa Bình (Đã được UBND huyện Lạc Thủy cấp GCNQSDĐ mang số BK 966813). Hai cháu Nguyễn Hải yến, Nguyễn Lan Anh có quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên (Quyền sử dụng đất là sử dụng chung; quyền sở hữu tài sản trên đất là sở hữu chung).

Ngoài ra, các đương sự khẳng định gia đình còn một số tài sản khác nhưng không kê khai và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.

4. Về lệ phí Tòa án: chị Đặng Thị Ng chịu toàn bộ lệ phía Tòa án là 150.000 đồng; đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0001933 ngày 24/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, còn thừa lại 150.000 đồng, nay chị Ng tự nguyện không lấy lại. Do vậy, Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc sung công số tiền trên theo quy định của pháp luật.

II. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ