vanban.org

Quyết định 25/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M, sinh ngày 15/8/1982; Địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Công M đưa đi CSCN"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M, sinh ngày 15/8/1982; Địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2025/QĐ-TAPhú Thọ, ngày 04 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- PHÚ THỌ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Khương Đặng Khánh Hằng

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trang

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 25/2025/QĐ-TA ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Công M (tên gọi khác: không);

Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1982;

Số CCCD/CMND: 0260820141783, cấp ngày 27/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- Bộ Công an;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12;

Quê quán: xã S, tỉnh Phú Thọ;

HKTT: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ;

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Nguyễn Công Tr, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị L (đã chết);

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Công Anh - Trưởng Công an xã S, tỉnh Phú Thọ; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hải Hưng - Cán bộ Công an xã S, tỉnh Phú Thọ (văn bản ủy quyền ngày 20/11/2025).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân khu vực 11- Phú Thọ: Ông Phan Anh

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Nguyễn Công M là người đã thành niên, tự thừa nhận mình nghiện ma túy Heroin từ năm 2023, hình thức sử dụng là hít khói ma túy đưa vào cơ thể, thường xuyên sử dụng ma túy với tần suất sử dụng 02 ngày/lần. Tại bản tường trình, biên bản làm việc với công an xã S ngày 03/11/2025 và 06/11/2025, M tự thừa nhận mình nghiện chất ma túy và tự thừa nhận lần mình dụng trái phép chất ma túy gần nhất là ngày 02/11/2025 và ngày 06/11/2025 trước khi được mời lên làm việc. Ngày 06/11/2025 Trạm y tế xã S tiến hành xét nghiệm chất ma túy, kết quả xét nghiệm dương tính với Heroine. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 06/11/2025, xác định Nguyễn Công M nghiện ma túy Heroine, M đã nhận kết quả xác tình trạng nghiện, công nhận kết quả là đúng, không có ý kiến gì khác. Công xã S đã lập biên bản, giải thích về việc trong thời hạn 05 ngày làm việc từ ngày 06/11/2025 đến ngày 12/11/2025, Nguyễn Công M phải đến UBND xã S để làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng M đã không chấp hành. Công an xã S lập biên bản vi phạm và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với M.

Với nội dung trên:

Đại diện cơ quan đề nghị là Công an xã S, tỉnh Phú Thọ có ý kiến: Nguyễn Công M là người sử dụng trái phép chất ma túy, không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Việc M nghiện chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Việc Nguyễn Công M nghiện ma tuý và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện đã vi phạm vào khoản 1 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống, ma tuý, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M với thời hạn 12 tháng (mười hai).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M, hồ sơ đảm bảo đầy đủ đúng trình tự thủ tục và đúng theo quy định của pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách người tham gia phiên họp đúng theo quy định, phiên họp diễn ra đúng quy trình và tuân theo pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý; khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 95, Điều 96, Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Thông tư liên tịch số 03/BCA-VKSNDTC-TANDTC; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M với thời hạn từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng.

Tại phiên họp người bị đề nghị Nguyễn Công M có quan điểm trình bày: Công nhận việc mình sử dụng ma túy loại heroine từ tháng năm 2023, hình thức sử dụng ma là hít khói ma túy vào cơ thể, sử dụng ma túy 02 ngày/lần. Ngày 06/11/2025 Trạm y tế xã S tiến hành xét nghiệm chất ma túy và xác định tình trạng nghiện ma túy của M. Kết quả M nghiện ma túy heroin, M đã được thông báo và công nhận kết quả nghiện ma túy là đúng. Bản thân M nhận thấy việc nghiện ma tuý của mình là sai trái, làm ảnh hưởng đến gia đình, xã hội.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người bị đề nghị, đại diện cơ quan đề nghị, kiểm sát viên.

XÉT THẤY

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M được lập đúng trình tự, thủ tục, thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của Công an xã S có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Công M là người nghiện ma tuý, thuộc thuộc đối tượng không đăng ký cai nguyện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Nguyễn Công M là cần thiết là đúng pháp luật.

Xét thấy Nguyễn Công M là đối tượng nghiện ma tuý, đã trên 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi nhưng không tu dưỡng rèn luyện, lao động, học tập. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, xâm hại đến quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội. Nếu tiếp tục để Nguyễn Công M ở ngoài xã hội sẽ tiếp tục lấn sâu vào sử dụng ma túy, đó chính là cơ sở để phát sinh các tệ nạn và bệnh tật xã hội. Việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Công M vào cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật và tạo điều kiện cho M có cơ hội học tập, lao động để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Tòa án có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đại diện Công an xã S và Kiểm sát viên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào ý kiến của Đại diện Công an xã S, tỉnh Phú Thọ, căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 4, 49, 56,57,58 và 59 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;

Căn cứ vào các Điều 27 và khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ vào pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối, Toà án nhân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp bộ máy Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Công M, sinh ngày 15/8/1982; Địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện khu vực 11- Phú Thọ. Người bị đề nghị có mặt có quyền khiếu nại Quyết định;

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này, Công an xã S, tỉnh Phú Thọ tổ chức thi hành đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ