- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định về việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết đối với bà M"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/2024/QĐST-HN | Quận Hai Bà Trưng, ngày 19 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 19/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 24/2024/TLST-VDS ngày 01/3/2024 về yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/3/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972; Nơi cư trú cuối cùng
trước khi bị tuyên bố chết: số 189 L, phường Đ, quận H, thành phố H; Nơi ở trước khi trở về: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L; Nơi ở khi trở về: thôn D, xã H, huyện P, thành phố H; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị T; sinh năm 1943; hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn D, xã
H, huyện P, thành phố H; xin vắng mặt.
- Anh Phạm Mạnh S; sinh năm 1973; hộ khẩu thường trú và nơi ở: 8B
L, phường P, quận H, thành phố H; có mặt.
- Chị Phạm Phương A; sinh năm 2000; hộ khẩu thường trú và nơi ở: 8B
L, phường P, quận H, thành phố H; xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
[1] Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người là đã chết và những lời khai tại Tòa án, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị Phạm Phương M trình bày:
Chị và anh Phạm Mạnh S đăng ký kết hôn ngày 24/10/2002 tại Ủy ban
nhân dân phường T, quận Hai Bà T, thành phố H. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống và có hộ khẩu thường trú tại: số 189 phố L, phường Đ, quận, thành phố H. Anh chị có hai người con chung là: Phạm Phương A, sinh ngày 04/11/2000 và Phạm Bảo A, sinh ngày 10/8/2004. Hiện tại cả hai con chung đều đã trưởng thành. Chị có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị T và bố đẻ là ông Phạm Văn Đ (đã chết năm 2022). Hiện nay mẹ đẻ chị đang cư trú tại: thôn D, xã H, huyện P, thành phố H.
Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên khoảng cuối tháng
7/2014, chị đã bỏ nhà đi vào Nam sinh sống mà không nói gì với gia đình. Khi vào trong đó, chị cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L cho đến tháng 02/2024. Thời gian này, chị không liên lạc với gia đình, nên gia đình chị không có bất kỳ thông tin gì về chị.
Đến tháng 02/2024, chị trở về. Khi về, chị mới biết trong thời gian chị
bỏ nhà đi, gia đình chị không có tin tức gì về chị, nên anh Phạm Mạnh S đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị và ngày 29/10/2018, Tòa án nhân dân quận H có Quyết định số 06/2018/QĐST-DS tuyên bố chị mất tích.
Sau đó, anh S có đơn xin ly hôn chị. Tại Bản án số 17/2019/HNGĐ-ST
ngày 07/6/2019, Toà án nhân dân quận H đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Mạnh S đối với chị. Bản án sau đó có hiệu lực pháp luật. Hiện tại chị được biết anh S đã kết hôn với người khác.
Đến năm 2022, sau nhiều năm không có tin tức xác thực là chị còn sống
nên mẹ đẻ chị là bà Đỗ Thị T đã làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người đã chết đối với chị. Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân quận H đã có Quyết định số 122/2022/QĐST-DS tuyên bố chị (Phạm Phương M); sinh ngày 17/01/1972; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: số 189 L, phường Đ, quận H, thành phố H đã chết từ ngày 30/11/2018. Sau khi có quyết định trên, gia đình chị đã làm thủ tục khai tử đối với chị tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H theo Giấy khai tử số 233/TLKT-BS ngày 14/11/2022.
Đến tháng 02/2024, chị trở về và liên hệ với Công an phường Đ, quận
H, thành phố H (là nơi cư trú cuối cùng trước khi chị bỏ đi) để xin xác nhận cư trú và ngày 23/02/2024, Công an phường Đ, quận H đã có văn bản Xác nhận thông tin cư trú số 00021/XN theo đề nghị của chị. Đồng thời, chị cũng có Đơn trình bày ngày 29/02/2024 về sự trở về với Uỷ ban nhân dân xã H, huyện P, thành phố H (là nơi chị được đăng ký khai sinh) và được Uỷ ban nhân dân xã H xác nhận là đúng. Hiện nay, chị xác nhận ở cùng với mẹ chị tại địa chỉ: thôn D, xã H, huyện P, thành phố H.
Về tên của chị, theo Giấy khai sinh do Uỷ ban nhân dân xã H, huyện P,
tỉnh H (cũ), chị có tên khai sinh ban đầu là: Phạm Thị Kim T; sinh ngày 17/01/1972. Tuy nhiên, chị đã làm thủ tục cải chính tên thành Phạm Phương M tại Uỷ ban nhân dân huyện P. Ngày 08/6/2006, Uỷ ban nhân dân huyện P đã có Quyết định số 1020.QĐ/UBND về việc cải chính tên Phạm Thị Kim T trong giấy khai sinh của chị thành: Phạm Phương M. Do đó, chị xác nhận chị có tên là: Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972, xác thực đã trở về, còn sống và hiện ở tại địa chỉ: thôn D, xã H, huyện Phú X, thành phố H.
Vì vậy, chị đề nghị Toà án ra Quyết định hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải
quyết việc dân sự v/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân quận H để khôi phục lại quan hệ nhân thân cho chị theo quy định của pháp luật. Ngoài ra chị không yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ tài sản giữa chị và anh Phạm Mạnh S; không yêu cầu Toà án giải quyết những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản thừa kế, giá trị hiện còn, đòi lại tài sản hoặc đòi bồi thường thiệt hại khác. Chị không có ý kiến gì về việc ly hôn giữa chị và anh Sơn và việc anh Sơn kết hôn với người khác.
[2] Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị T trình bày:
Con gái bà là chị Phạm Phương M; sinh năm 1972 và anh Phạm Mạnh S,
sinh năm 1973 có đăng ký kết hôn ngày 24/10/2002 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố H. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ: 189 phố L, phường Đ, quận H, thành phố H và có hai con chung là: cháu Phạm Phương A, sinh ngày 04/11/2000 và cháu Phạm Bảo A, sinh ngày 10/8/2004. Vợ chồng chị M và anh S không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình và đều được giải quyết ổn thoả.
Khoảng cuối tháng 7/2014, chị M đã tự ý bỏ nhà đi không có lý do,
không có tin tức gì và cũng không liên lạc với gia đình. Từ khi chị M bỏ đi, anh Sơn và cả gia đình bà đã liên lạc, tìm kiếm chị M qua bạn bè, người thân và cả đăng tin trên báo đài nhưng vẫn không có thông tin gì của chị M. Ngày 22/02/2022, chồng bà (ông Phạm Văn Đ) mất, chị M cũng không về chịu tang.
Do không có tin tức gì về chị M, nên anh Phạm Mạnh S (là chồng chị M)
có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị M. Ngày 29/10/2018, Tòa án nhân dân quận H ra Quyết định tuyên bố một người mất tích số 06/2018/QĐST-DS đối với chị Phạm Phương M. Sau đó, anh S có đơn xin ly hôn chị M. Tại Bản án số 17/2019/HNGĐ-ST ngày 07/6/2019 của Toà án nhân dân quận H đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Mạnh S đối với chị M. Bản án sau đó có hiệu lực pháp luật và ngày 23/7/2019, anh S đã kết hôn với người khác. Toàn bộ quá trình anh S tuyên bố mất tích và xin ly hôn đối với chị M, gia đình bà đều được Toà án thông báo và gia đình bà đồng ý để anh S làm các thủ tục theo quy định của pháp luật.
Đến năm 2022, sau nhiều năm liền không có bất kỳ tin tức gì của chị M
nên bà đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận H ra quyết định tuyên bố một người đã chết đối với chị Phạm Phương M. Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân quận Hđã có Quyết định số 122/2022/QĐST-DS v/v tuyên bố chị Phạm Phương M đã chết từ ngày 30/11/2018. Sau khi có quyết định trên, gia đình bà đã làm thủ tục khai tử chị Phạm Phương M tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H theo Giấy khai tử số 233/TLKT-BS ngày 14/11/2022.
Đến tháng 02/2024, chị Phạm Phương M còn sống, trở về và hiện đang ở
cùng với bà tại thôn D, xã H, huyện P, thành phố H.
Theo Giấy khai sinh số 06, quyển số 01 do UBND xã H, huyện P, tỉnh H
(cũ), con gái bà có tên khai sinh ban đầu là: Phạm Thị Kim T; sinh ngày 17/01/1972. Tuy nhiên, Uỷ ban nhân dân huyện P đã có Quyết định số 1020.QĐ/UBND ngày 08/6/2006 về việc đính chính tên Phạm Thị Kim T trong giấy khai sinh thành: Phạm Phương M. Do đó, bà xác nhận con gái bà có tên là: Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972; xác thực còn sống, trở về và hiện ở cùng bà tại địa chỉ: thôn D, xã H, huyện P, thành phố H.
Việc chị Phạm Phương M còn sống và trở về, gia đình bà rất mừng và
thống nhất để làm các thủ tục huỷ Quyết định tuyên bố chị M đã chết tại Toà án. Vì vậy, bà đề nghị Toà án ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tuyên bố chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân quận H để khôi phục các quan hệ nhân thân cho con gái bà theo quy định của pháp luật. Ngoài yêu cầu Toà án Hủy bỏ Quyết định tuyên bố chết, bản thân chị M, bà, anh S cũng như cả gia đình đều không tranh chấp và không có yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề về tài sản, con, thừa kế, kết hôn mới của anh Phạm Mạnh S, quan hệ hôn nhân mới của anh S vẫn có hiệu lực pháp luật. Do tuổi cao, sức yếu, nên bà xin được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết tiếp theo vụ việc.
- Anh Phạm Mạnh S trình bày:
Anh và chị Phạm Phương M có đăng ký kết hôn ngày 24/10/2002 tại Ủy
ban nhân dân phường T, quận H, thành phố H. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại: số 189 phố L, phường Đ, quận H, thành phố H và có hai người con chung là: Phạm Phương A, sinh ngày 04/11/2000 và Phạm Bảo A, sinh ngày 10/8/2004. Trong thời gian chung sống anh chị không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có những mâu thuẫn nhỏ nhưng đều được giải quyết ổn thoả.
Khoảng cuối tháng 7/2014, chị M đã tự ý bỏ nhà đi không có lý do,
không có tin tức gì và cũng không liên lạc với gia đình. Từ khi chị M bỏ đi, anh và cả gia đình đã tìm kiếm chị M qua bạn bè, người thân và cả đăng tin trên báo đài nhưng vẫn không có thông tin gì của chị M. Do không có tin tức gì về chị M, nên anh có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị M. Ngày 29/10/2018, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng ra Quyết định tuyên bố một người mất tích số 06/2018/QĐST-DS đối với chị Phạm Phương M. Năm 2019, anh có đơn xin ly hôn chị M. Tại Bản án số 17/2019/HNGĐ-ST ngày 07/6/2019 của Toà án nhân dân quận H đã giải quyết cho anh được ly hôn với chị M. Bản án sau đó có hiệu lực pháp luật. Đến ngày 23/7/2019, anh đã đăng ký kết hôn với người khác theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 do Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận H cấp.
Đến năm 2022, bà Đỗ Thị T (là mẹ đẻ của chị M) đã làm đơn yêu cầu
Tòa án nhân dân quận H ra quyết định tuyên bố một người đã chết đối với chị Phạm Phương M. Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân quận H đã có Quyết định số 122/2022/QĐST-DS v/v tuyên bố chị Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: số 189 L, phường Đ, quận H, H đã chết từ ngày 30/11/2018. Sau khi có quyết định trên, gia đình đã làm thủ tục khai tử chị Phạm Phương M tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H theo Giấy khai tử số 233/TLKT-BS ngày 14/11/2022.
Đến tháng 02/2024, chị Phạm Phương M còn sống, trở về và có yêu cầu
Toà án ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tuyên bố chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân quận H đối với chị, anh nhất trí với yêu cầu của chị M. Ngoài ra, anh cùng gia đình đều không tranh chấp và không có yêu cầu Toà án giải quyết các nội dung liên quan đến tài sản, con chung và thừa kế. Do anh đã ly hôn với chị M theo quy định của pháp luật nên anh đề nghị Toà án xác định quan hệ hôn nhân giữa anh và người khác vẫn có hiệu lực pháp luật.
- Chị Phạm Phương A trình bày:
Chị xác nhận mẹ chị là bà Phạm Phương M và bố chị là ông Phạm Mạnh
S kết hôn năm 2002 và sinh được chị là Phạm Phương A, sinh ngày 04/11/2000 và em gái chị là Phạm Bảo A, sinh ngày 10/8/2004. Sau khi bố mẹ chị kết hôn, gia đình chị sinh sống tại số 189 L, phường Đ, quận H, thành phố H.
Khoảng tháng 7/2014, mẹ chị bỏ nhà đi không liên lạc với gia đình nên
gia đình chị không biết mẹ chị sinh sống ở đâu. Mặc dù gia đình đã tìm kiếm mẹ chị bằng mọi cách nhưng không có kết quả. Do không có tin tức gì của mẹ chị nên bố chị đã yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ chị mất tích và ngày 29/10/2018, Tòa án quận H đã quyết định số 06/2018/QĐST-DS về việc tuyên bố mẹ chị mất tích. Sau đó bố chị đã giải quyết ly hôn với mẹ chị theo Bản án số 17/2019/HNGĐ-ST ngày 07/6/2019 của Tòa án quận H và bố chị đã kết hôn với người khác từ ngày 23/7/2019. Việc bố mẹ chị đã giải quyết ly hôn và bố chị đã kết hôn với người khác, chị không có ý kiến gì.
Năm 2022, bà ngoại chị là bà Đỗ Thị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân
quận H tuyên bố mẹ chị đã chết do vẫn không có tin tức gì về mẹ chị. Ngày 29/9/2022, Tòa án quận H đã có Quyết định số 122/2022/QĐST-DS tuyên bố mẹ chị là bà Phạm Phương M đã chết. Sau khi có quyết định trên gia đình chị đã làm thủ tục khai tử cho mẹ tại Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận H.
Đầu năm 2024, mẹ chị trở về, còn sống nên chị đề nghị Tòa án hủy bỏ
Quyết định tuyên bố chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án quận H để khôi phục các quan hệ nhân thân đối với mẹ chị theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, chị và gia đình không yêu cầu Toà án giải quyết các nội dung nào khác có liên quan đến tài sản, con và thừa kế. Việc bố mẹ chị đã giải quyết ly hôn và bố chị đã kết hôn với người khác, chị không có ý kiến gì.
Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, bà Phạm Phương M và anh Phạm
Mạnh S giữ nguyên các ý kiến đã trình bày như trên. Bà Đỗ Thị T và chị Phạm Phương A có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên lời khai đã trình bày, nên căn cứ khoản 3 Điều 367 Toà án vẫn tiến hành phiên họp.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H phát biểu ý kiến về việc giải
quyết việc dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Toà án nhân dân quận H đã thụ lý
việc dân sự theo đơn yêu cầu của chị Phạm Phương M là đúng thẩm quyền và giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân quận
H đã có Quyết định giải quyết việc dân sự số 122/2022/QĐST-DS về việc tuyên bố một người là đã chết đối với chị Phạm Phương M. Sau khi có Quyết định trên gia đình chị Phạm Phương M đã làm thủ tục khai tử chị theo quy định tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố H. Tháng 02/2024, chị Phạm Phương M còn sống, trở về và yêu cầu Toà án huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người là đã chết đối với chị. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự và ý kiến trình bày của các đương sự, xét thấy có căn cứ xác thực chị Phạm Phương M còn sống, trở về nên Viện kiểm sát đề nghị Toà án căn cứ: Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 394, Điều 395, Điều 369 và Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 73 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải quyết:
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Phương
M; Tuyên bố hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự v/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân quận H đối với chị Phạm Phương M.
- Về hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người là
đã chết: Chị Phạm Phương M và anh Phạm Mạnh S đã được Toà án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự nên bản án ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật; Anh Phạm Mạnh S đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật; Chị Phạm Phương M không yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ tài sản giữa chị và anh Phạm Mạnh S, nên không xét; Chị Phạm Phương M không yêu cầu Toà án giải quyết những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản thừa kế, giá trị hiện còn, đòi lại tài sản hoặc đòi bồi thường thiệt hại, nên không xét.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Đề nghị Toà án căn cứ Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự
được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân
dân quận Hai Bà Trưng đã có Quyết định số 122/2022/QĐST-DS tuyên bố chị Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: số 189 L, phường Đ, quận H, thành phố H đã chết từ ngày 30/11/2018. Ngày 23/02/2024, chị Phạm Phương M còn sống, trở về và có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết nêu trên. Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.
Về việc sự vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ
Thị T, chị Phạm Phương A: Tòa án đã triệu tập bà Đỗ Thị T, chị Phạm Phương A hợp lệ đến tham gia phiên họp. Tuy nhiên bà Đỗ Thị T và chị Phạm Phương A đều có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và giữ nguyên lời khai đã trình bày nên căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà T và chị Phương A.
Về nội dung giải quyết việc dân sự: Xét yêu cầu của chị Phạm
Phương M, Tòa án nhận thấy:
Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân quận H đã có Quyết định sơ thẩm giải
quyết việc dân sự số 122/2022/QĐST-DS về việc tuyên bố chị Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: số 189 L, phường Đ, quận H, H đã chết từ ngày 30/11/2018. Sau khi có quyết định trên, gia đình chị đã làm thủ tục khai tử đối với chị tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố H theo Giấy khai tử số 233/TLKT-BS ngày 14/11/2022.
Quá trình giải quyết việc dân sự, chị Phạm Phương M trình bày khi bỏ
nhà đi chị sinh sống và cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L và chị đã xuất trình “Giấy xác nhận nhân thân” có xác nhận của Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh L ngày 14/02/2023, ngày 09/02/2024. Trước khi bỏ nhà đi, chị đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại số 189 L, phường Đ, quận H, thành phố H. Tháng 02/2024, chị trở về và liên hệ với Công an phường Đ, (là nơi cư trú cuối cùng trước khi chị bỏ đi) để xin xác nhận cư trú và ngày 23/02/2024, Công an phường Đ đã có văn bản Xác nhận thông tin cư trú số 00021/XN theo đề nghị của chị. Đồng thời, chị cũng có Đơn trình bày ngày 29/02/2024 về sự trở về và nơi ở hiện nay với Uỷ ban nhân dân xã H, huyện P, thành phố H (là nơi chị được đăng ký khai sinh) và được Uỷ ban nhân dân xã H xác nhận là đúng. Chị trình bày hiện nay đang ở cùng với mẹ chị tại địa chỉ: thôn D, xã H, huyện P, thành phố H.
Ngoài ra, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: bà Đỗ Thị
T (là mẹ đẻ chị M), anh Phạm Mạnh S (là chồng trước đây của chị) và chị Phạm Phương A (là con gái chị M) đều trình bày ý kiến xác nhận sự việc chị Phạm Phương M còn sống, đã trở về và cùng yêu cầu Tòa án ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tuyên bố chị Phạm Phương M đã chết.
Xét thấy người bị tuyên bố chết là chị Phạm Phương M đã trở về và có
căn cứ xác thực là còn sống nên căn cứ Điều 394, Điều 395 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 73 Bộ luật Dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Phương M và có căn cứ huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người đã chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân quận H (đối với chị Phạm Phương M).
Về hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã
chết, thấy: Anh Phạm Mạnh S và chị Phạm Phương M đã được Toà án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự nên bản án ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Anh Phạm Mạnh S đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật; Chị Phạm Phương M không yêu cầu Toà án giải quyết về quan hệ tài sản giữa chị và anh Phạm Mạnh S, nên không xét; Chị Phạm Phương M không yêu cầu Toà án giải quyết việc những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản thừa kế, giá trị hiện còn, đòi lại tài sản hoặc đòi bồi thường thiệt hại, nên không xét.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu lệ phí giải
quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
Điều 394, Điều 395, Điều 369 và Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 73 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Phương
M về việc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.
2. Hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự v/v yêu cầu tuyên
bố một người là đã chết số 122/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân quận H (đối với chị Phạm Phương M; sinh ngày 17/01/1972).
3. Về hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người là
đã chết:
3.1. Chị Phạm Phương M và anh Phạm Mạnh S đã được Toà án giải
quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự nên bản án ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.
3.2 Anh Phạm Mạnh S đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn
có hiệu lực pháp luật.
3.3 Chị Phạm Phương M không yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ tài
sản giữa chị và anh Phạm Mạnh S, nên Toà án không xét.
3.4 Chị Phạm Phương M không yêu cầu Toà án giải quyết những người
đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản thừa kế, giá trị hiện còn, đòi lại tài sản hoặc đòi bồi thường thiệt hại khác, nên Toà án không xét.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Phương M phải chịu
lệ phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012284 ngày 17/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp được
quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng có quyền kháng nghị quyết
định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. * Nơi nhận:
| - Đương sự; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng; - UBND phường Đ, quận H, thành phố H; - Lưu: VT, hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thị Phương Thủy |