- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn T về việc không công nhận cha cho con.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/2022/QĐST-VHNGĐ | Ngũ Hành Sơn, ngày 12 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc không công nhận cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Lâm
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2022/TLST-VHNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2022 về việc không công nhận cha cho con theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VHNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Nguyễn T, sinh năm 1966
Địa chỉ: Tổ 30, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Có mặt;
* Người được yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Tổ 30, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Có mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị B, sinh năm: 1970
Địa chỉ: Tổ 30, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ông Nguyễn T và bà Trần Thị B là vợ chồng kết hôn với nhau vào ngày 16/01/1992 đến ngày 30/4/1992 thì bà B sinh con có tên Nguyễn Minh T1. Vào ngày 15/9/2014 ông T đi làm xét nghiệm AND để xác định huyết thống cha con chô ông T và ông T1 tại Viện khoa học hình sự, Trung tâm giám định AND Miền Trung và Tây Nguyên. Kết quả xét nghiệm ông T không phải là cha đẻ của ông T1.
Đến ngày 07 tháng 01 năm 2022 ông Nguyễn T đã gửi đơn đến Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn để yêu cầu Tòa án không công nhận ông Nguyễn Minh T1 không phải con ruột của ông T. Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã Trưng cầu giám định ADN đối với ông Nguyễn T và ông Nguyễn Minh T1. Qua kết quả xét nghiệm ADN xác định ông Nguyễn T và ông Nguyễn Minh T1 không có quan hệ huyết thống cha- con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận nội dung đơn của ông Nguyễn T yêu cầu Tòa án không công nhận ông Nguyễn T là cha ruột của ông Nguyễn Minh T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng nhận định: [1] Việc ông Nguyễn T làm đơn yêu cầu không công nhận cha ruột của ông Nguyễn Minh T1 là quyền dân sự được pháp luật bảo vệ và ông Nguyễn T đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn yêu cầu của ông Nguyễn T có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 362 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi người yêu cầu cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành S được quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Qua đơn trình bày của ông Nguyễn T Tòa án xét thấy: Việc ông Nguyễn T xác nhận ông Nguyễn T không phải cha ruột của ông Nguyễn Minh T1 là hoàn toàn có thật. Tại kết quả giám định ADN số 20/KL-C09(DD3) ngày 29/3/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng đã kết luận ông Nguyễn T và ông Nguyễn Minh T1 không có quan hệ huyết thống cha - con.
Qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên họp về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn T về việc không công nhận cha cho con là có căn cứ. [3] Từ những nhận định trên, xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn T về việc không công nhận cha cho con. [4] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng, ông Nguyễn T phải chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn T về việc không công nhận cha cho con.
Tuyên bố: Ông Nguyễn T, sinh năm: 1966; Trú tại: Tổ 30, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng không phải cha ruột của ông Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1992; Trú tại: Tổ 30, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, ông Nguyễn T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001156 ngày 08/02/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.
- Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND Q.Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS Q.Ngũ Hành Sơn; - UBND phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn - Lưu hồ sơ việc dân sự. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH S TP. ĐÀ NẴNG V/v giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự: cho con thụ lý số 54/2019/TLST-VHNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 và theo Quyết tháng 6 năm 2019. Với thành phần phiên họp giải quyết việc yêu cầu gồm có: - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Văn Lâm - Thẩm phán Liên - Kiểm sát viên. - Thư ký phiên họp: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án *Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phùng Quốc Độ, sinh năm: 1963 - có mặt Trú tại: Tổ 26 phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng. *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Hiệp, sinh năm: 1955 - có đơn xin vắng mặt Trú tại: Số 10 Bàu Bàng, phường 13, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh; 2. Ông Nguyễn Văn Kiệp, sinh năm: 1957 - có đơn xin vắng mặt Trú tại: Ấp Trung Tâm, xã Xuân Lập, TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; 3. Bà Nguyễn Thị Gạo, sinh năm 1959 - có đơn xin vắng mặt Trú tại: Ấp Trung Tâm, xã Xuân Lập, TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. NỘI DUNG Trang Điền, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) sinh được 5 người con Nguyễn Hiệp, sinh 1955; Nguyễn Văn Kiệp, sinh năm 1957; Nguyễn Thị Gạo, sinh năm 1959; ông Nguyễn Văn Nam tức là Phùng Quốc Độ, sinh năm 1963 và Nguyễn Thị Út, sinh năm 1964 đã chết từ nhỏ. chị em ruột ông Độ còn nhỏ nên anh Hiệp, anh Kiệp và em Út được bác ruột là ông Nguyễn Hoành tại TP. Hồ Chí Minh nhận nuôi dưỡng được một thời gian thì em Út bị bệnh chết. Chị Gạo sống với cô ruột là Nguyễn Thị Mười tại TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Còn ông Độ được bác Nguyễn Văn Ánh trú tại phường Phước Hải, quận 3, TP. Đà Nẵng nuôi dưỡng. Đến năm 1971 ông Độ đi bán kem và bị thất lạc đến phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S không nhớ đường về nhà. Lúc đó ông Độ được ông Phùng Quốc Quảng (chết năm 1975) và bà Trần Thị Chít (chết năm 2008) nhận về làm con nuôi và đặt tên Phùng Quốc Độ và sinh sống với cha mẹ. Đến năm 1979 ông Độ đi nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ năm 1982 và sinh sống tại Hòa Q, quận Ngũ Hành S. Nam trên VTV1 ngày 01/7/2017, ông Độ và các anh chị em ruột tìm lại được nhau. Sau đó ông Độ và anh Nguyễn Hiệp đã tiến hành kiểm tra ADN, kết quả giám định xác định ông Độ và ông Hiệp có quan hệ huyết thống theo dòng họ nội. Để đảm bảo quyền lợi cho ông Độ và tìm về cội nguồn ông bà nên ông Độ yêu cầu Tòa án truy nhận ông Nguyễn Văn Nghiệp và bà Huỳnh Thị Hiệp là cha mẹ ruột. Nguyễn Văn Nghiệp và Huỳnh Thị Hiệp là cha mẹ ruột. phiên họp về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phùng Quốc Độ về việc truy nhận cha mẹ cho con là có căn cứ. Huỳnh Thị Hiệp; quê quán thôn Trang Điền, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cả hai đã mất) là cha đẻ và mẹ đẻ của của ông Phùng Quốc Độ, sinh năm: 1963; Trú tại: Tổ 26 phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng Biên bản kết thúc vào lúc 09h 45 cùng ngày Thư ký ghi biên bản Đoàn Công Hồng Lĩnh | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Văn Lâm CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN PHIÊN HỌP Hôm nay vào lúc 09 giờ 15 ngày 02 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngũ Hành S mở phiên họp giải quyết yêu cầu: Về việc truy nhận cha mẹ ruột định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VHNGĐ ngày 17 - Đại diện VKSND quận Ngũ Hành S tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thúy Cha mẹ ông Độ là Nguyễn Văn Nghiệp và Huỳnh Thị Hiệp (quê quán thôn Năm 1964 cha ông Độ hi sinh, đến năm 1968 mẹ ông Độ cũng hi sinh. Các anh Thông qua chương trình “Như chia hề có cuộc chia ly” của đài truyền hình Việt Tại phiên họp hôm nay, ông Phùng Quốc Độ yêu cầu Tòa án xác định ông Qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành S tại Chủ tọa phiên họp công bố quyết định tuyên bố ông Nguyễn Văn Nghiệp và bà Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp Lê Văn Lâm |