- Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn T, sinh ngày 08/10/1986, nơi cư trú tại tổ 31, khu P, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/2022/QĐ-TA | Uông Bí, ngày 17 tháng 10 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán trì phiên họp: Ông Trần Anh Đức;
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Trung Nghĩa;
Ngày 17 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 22/2022/QĐ-TA ngày 06 tháng 10 năm 2022 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày 08/10/1986; giới tính: nam; căn cước công dân số 022086013550 do Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội cấp ngày 09/5/2021; nơi cư trú tại tổ 31, khu P, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: tự do; tiền án: năm 2006 bị Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, năm 2011 bị Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, năm 2018 bị Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: năm 2017 bị Công an thành phố Uông Bí xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; con ông Phạm Văn Đ và bà Vũ Thị N. Anh T vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trương Đức Minh, chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh: Ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.
NỘI DUNG
Người bị đề nghị Phạm Văn T là người trưởng thành, có nơi cư trú rõ ràng, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2003, ngày 15/9/2022, anh T tự nguyện làm đơn xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí, kết quả trả lời số 2270/XĐN-TTYT ngày 15/9/2022 của Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí là anh T có nghiện ma túy dạng Morphin/ Heroin. Ngày 23/9/2022, Công an phường Y lập biên bản vi phạm đối với anh T về việc không đăng ký cai nghiện ma túy sau khi được cơ quan y tế trả lời kết quả xác định anh T có nghiện ma túy.
Ngày 23/9/2022, Ủy ban Nhân dân phường Y thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
Tại bản tường trình ngày 23/9/2022, anh Phạm Văn T trình bày: tôi sử dụng ma túy từ năm 2003, loại ma túy sử dụng là heroin, ngày 15/9/2022, tôi có làm đơn tự nguyện xác định tình trạng nghiện ma túy, kết quả Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí trả lời tôi nghiện hợp chất heroin, nhưng tôi không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có ý kiến: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xem xét áp dụng biện pháp đưa anh Phạm Văn T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh với thời hạn là từ 15 tháng đến 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Việc lập hồ sơ, đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của các cơ quan có thẩm quyền và các thủ tục mở phiên họp xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán đối với anh Phạm Văn T được thực hiện đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đủ căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn T và đề nghị thời hạn từ 15 tháng đến 18 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị:
Hồ sơ đã được lập đảm bảo đầy đủ tài liệu cần thiết và được lập đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 và khoản 1 Điều 104 của Luật Xử lý Vi phạm Hành chính, hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 32 của Luật Phòng chống Ma túy.
Về đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Uông Bí:
Người bị đề nghị Phạm Văn T là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú rõ ràng, là người nghiện ma túy, ngày 15/9/2022, Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí có phiếu trả lời số 2270/XĐN-TTYT ngày 15/9/2022 là anh T có nghiện ma túy dạng Morphin/ Heroin, anh T cũng có bản tường trình thừa nhận việc sử dụng ma túy, đến ngày 23/9/2022, Công an phường Y lập biên bản vi phạm đối với anh T về việc không đăng ký cai nghiện ma túy sau khi được cơ quan y tế trả lời kết quả xác định có nghiện ma túy.
Hành vi của anh Phạm Văn T là nguy hại đến sức khỏe của chính người trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy và là nguyên nhân làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Để cho anh Phạm Văn T được sử dụng thuốc điều trị cai nghiện ma túy, được giáo dục, lao động, tái hòa nhập cộng đồng có hiệu quả, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự địa phương, việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn T là cần thiết.
Người bị đề nghị Phạm Văn T có nhân thân xấu, có 03 tiền án và 01 tiền sự. Trong quá trình làm việc với cơ quan chức năng, anh T đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng chất ma túy nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý Vi phạm Hành chính.
Vì các lẽ trên;
- Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, khoản 1 Điều 104, khoản 2 Điều 105 và khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
- Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
- Căn cứ Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 13, quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn T, sinh ngày 08/10/1986, nơi cư trú tại tổ 31, khu P, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị là anh Phạm Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan, cá nhân thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - VKS, CA Tp. Uông Bí; - Phòng LĐ -TB và XH Tp. Uông Bí; - UBND p. Y, Tp.Uông Bí; - CA p. Y, Tp.Uông Bí; - CS cai nghiện MT tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN Trần Anh Đức |