vanban.org

Quyết định 249/2020/QĐ-PT — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/05/2020 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 67/2019/QĐST – KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân quận Thủ Đức.

Công ty Luật TNHH V phải chịu án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000đồng theo biên lai thu số 0056005 ngày 20/11/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thủ Đức. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Công ty Luật TNHH MTV V và Công ty TNHH G"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 67/2019/QĐST – KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân quận Thủ Đức.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 249/2020/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:

Bà: Ủ Thị Bạch Yến

Các Thẩm phán:

Bà: Nguyễn Thị Trinh

Bà: Hà Thanh Thủy

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Phan Thị Thu Hiền - Cán bộ Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp:

Ông Trần Hồng Long – Kiểm sát viên.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 67/2019/QĐST – KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2019

Toà án nhân dân quận Thủ Đức đã căn cứ vào Điều 184; Điểm e Khoản 1, Khoản 3 Điều 217; Khoản 3 Điều 218; Điều 219; Điều 271; Khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa:

Nguyên đơn: Công ty Luật TNHH MTV V

Địa chỉ: 720A đường ĐBP, phường HH, quận BTh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH G

Địa chỉ: 62A, đường B, phường BC, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Công ty Luật TNHH V với lý do: Bà ML là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH G yêu cầu Công ty Luật TNHH V cung cấp các thông tin để Công ty TNHH G xem xét nhằm hỗ trợ cho việc thanh toán phí dịch vụ cho Công ty Luật TNHH V phải được hiểu là, bà ML đã thừa nhận một phần nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ mà Công ty TNHH G có nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty Luật TNHH V. Chính vì vậy, việc thừa nhận một phần nghĩa vụ thanh toán của bà ML, đại diện cho Công ty TNHH G chính là căn cứ pháp luật để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án theo quy định tại Khoản 2 Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015. Công ty Luật TNHH V yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 67/2019/QĐST – KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị: Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân TPHCM không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 67/2019/QĐST-KDTM ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức.

XÉT THẤY:

Tòa án nhân dân quận Thủ Đức ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 67/2019/QĐST – KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2019 với căn cứ thời hiệu khởi kiện đã hết.

Nguyên đơn kháng cáo quyết định đình chỉ nêu trên với lý do Bị đơn thừa nhận một phần nghĩa vụ của họ qua thư trả lời của bà ML là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH G gửi ngày 20/3/2018 thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Do đó, căn cứ để xác định yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn còn trong thời hiệu khởi kiện là ngày 21/3/2018.

Nguyên đơn cung cấp bản dịch (từ tiếng Anh sang tiếng Việt) thư trả lời của bà ML gửi ngày 20/3/2018 có nội dung sau: “Chúng tôi cũng đã gửi rất nhiều email liên quan đến bằng chứng để hỗ trợ cho việc tính phí của bạn nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi nào”.

Bị đơn cho rằng thư trả lời của bà ML gửi ngày 20/3/2018 được dịch (từ tiếng Anh sang tiếng Việt) có nội dung sau: “Chúng tôi cũng đã gửi rất nhiều email yêu cầu cung cấp bằng chứng chứng minh cho quyền tính phí của bạn nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi nào” và nội dung này không thỏa mãn quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 tại Điểm a Khoản 1 Điều 157 về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

Xét thấy, Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh Bị đơn xác nhận số tiền phí dịch vụ mà Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn là bao nhiêu cũng như thời gian Bị đơn cam kết trả cho Nguyên đơn là khi nào. Với nội dung bản dịch thư trả lời của bà ML gửi ngày 20/3/2018 do Nguyên đơn và Bị đơn trình bày nêu trên không thể hiện được “Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện” như Nguyên đơn trình bày để làm căn cứ kháng cáo. Do đó, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn.

Căn cứ vào Điều 148 và 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 67/2019/QĐST – KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân quận Thủ Đức.

2. Công ty Luật TNHH V phải chịu án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000đồng theo biên lai thu số 0056005 ngày 20/11/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thủ Đức.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ