vanban.org

Quyết định 243/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Tr.

Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Tr được ly hôn anh Phùng Bá Ng. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phùng Đức Ph sinh ngày 17/9/2006 và Phùng Phương N sinh ngày 28/01/2011. Cháu Ph đã trưởng thành. Giao cháu Phùng Phương Nam sinh ngày 28/01/2011 cho anh Phùng Bá Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Tr xin ly hôn Phùng Bá Ng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 05/11/2024
V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiếu và bà Bùi Thị Vân Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXX/HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Tr, sinh năm 1986;

HKTT: Thôn Th, xã Th, huyện X, thành phố Hà Nội

2. Bị đơn:

Anh Phùng Bá sinh năm 1982;

HKTT: Thôn Th, xã Th, huyện X, thành phố Hà Nội

Chị Tr có mặt, anh Ng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị Tr trình bày:

Chị và anh Phùng Bá Ng tự nguyện tìm hiểu và đăng kí kết hôn vào ngày 09/9/2005 tại UBND xã Khai Thái, huyện Phú Xuyên. Sau khi cưới anh chị về chung sống với nhau ngay, nhưng thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh Ng thiếu quan tâm, trách nhiệm với vợ con. Đến cuối năm 2019, thì chị Tr bỏ về nhà bố mẹ đẻ tá túc và ly thân anh Ng từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị đề nghị được ly hôn anh Ngôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phùng Đức Ph sinh ngày 17/9/2006 và Phùng Phương Nsinh ngày 28/01/2011, cháu Ph đã trưởng thành, chị không đề nghị Toà xét. Còn cháu Nvẫn đang ở cùng anh Ng, nên chị đề nghị giao anh Ng được tiếp tục nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/01 tháng.

Tài sản chung, công nợ chung vợ chồng: Không có, chị không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về phía bị đơn, anh Phùng Bá Ng không đến tòa làm việc.

Tại phiên tòa: Chị Đỗ Thị Tr giữ nguyên quan điểm về việc kiện, trừ việc chị đề nghị tăng mức cấp dưỡng nuôi con lên 2.200.000 đồng/tháng.

Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình. Đề nghị HĐXX, xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Tr.

Chị Trang anh Ng có hai con chung là Phùng Đức Phg sinh ngày 17/9/2006 và Phùng Phương N sinh ngày 28/01/2011, cháu Phương đã trưởng thành, không đề nghị Toà án giải quyết; Giao con chung là Phùng Phương N, sinh ngày 28/01/2011 cho anh Ngôn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Chấp nhận việc chị Tr cấp dưỡng nuôi con chung với anh Ngôn mức 2.200.000đ/1 tháng kể từ tháng 11/2024 đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Không xét quan hệ tài sản, công nợ chung vợ chồng. Chị Tr phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con, theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở lời trình bày của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa, anh Ng đều vắng mặt. Vì vậy, theo qui định tại điều 227, 228 Bộ luật TTDS, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngôn.

Về Nội dung:

Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Tr và anh Phùng Bá Ng có quan hệ hôn nhân tự nguyện và hợp pháp, thể hiện bằng việc họ đăng ký kết hôn tại UBND xã Khai Thái,huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, vào ngày 09/9/2005. Sau khi cưới, quan hệ vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, cả trong đời sống sinh hoạt vợ chồng, cũng như trong chuyện làm ăn, thu vén kinh tế gia đình. Đến cuối năm 2019, chị Tr đã về nhà mẹ đẻ ở nhờ và ly thân anh Ngôn từ đó đến nay. Quá trình giải quyết việc kiện, trong khi chị Tr kiên định với yêu cầu xin ly hôn, thì anh Ng không đến Tòa làm việc, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải do Tòa án tiến hành với do “bận việc làm ăn”, như lời người thân của anh Ng là ông Phùng Bá D (bố đẻ anh Ng) xác nhận, điều này cũng chứng tỏ phía anh Ngôn không thực sự có nguyện vọng được hàn gắn hôn nhân. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa các bên đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu, cần áp dụng các quy định của điều 39 BLDS, các điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Tr được được ly hôn anh Ngôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phùng Đức Ph sinh ngày 17/9/2006 và Phùng Phương N sinh ngày 28/01/2011, cháu Phương đã trưởng thành, các bên không yêu cầu Tòa xét. Tòa không xét.

Đối với cháu Nam, ở thời điểm hiện tại, cháu đang ở với anh Ng, phía chị Tr, anh Ng, cháu N, đều có nguyện vọng giao cháu N cho anh Ng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với các quy định của điều 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình. Tòa chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Thông qua gia đình, phía anh Ngôn đề nghị chị Trang cấp dưỡng với mức 2.000.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa, chị Tr đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Ng là 2.200.000đ/01tháng, xét sự tự nguyện của chị Tr là hoàn toàn tự nguyện và đã cao hơn mức cấp dưỡng mà anh Ngôn đề nghị. Tòa chấp nhận.

Chị Đỗ Thị Tr được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ chung vợ chồng: Chị Tr không yêu cầu Tòa án xét, trong khi anh Ng không có quan điểm trực tiếp về tài sản công nợ, nên Tòa không xét trong vụ án này. Trường hợp sau này, nếu anh Ng có yêu cầu hoặc các bên có tranh chấp mà khởi kiện, thì Tòa án sẽ giải quyết trong một vụ án riêng biệt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Đỗ Thị Tr phải nộp án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 39 BLDS; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Tr.

- Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Tr được ly hôn anh Phùng Bá Ng.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phùng Đức Ph sinh ngày 17/9/2006 và Phùng Phương N sinh ngày 28/01/2011. Cháu Ph đã trưởng thành. Giao cháu Phùng Phương Nam sinh ngày 28/01/2011 cho anh Phùng Bá Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị Đỗ Thị Tr cấp dưỡng nuôi con chung với anh Phùng Bá Ng 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng, tính từ tháng 11/2024 đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Chị Đỗ Thị Tr được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị Tr phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con; được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0015577 ngày 02/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Chị Tr còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDTP Hà Nội

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Phú Xuyên

- Chi cục THA huyện Phú Xuyên

( đã ký)

- Các đương sự

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Văn Quang

Thành viên Hội đồng xét xử

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quang Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ