- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kiều T - Nguyễn Văn T (Ly hôn, tranh chấp về nuôi con)"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Kiều T và ông Nguyễn Văn T2.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 241/2021/QĐST-HNGĐ | Bến Cát, ngày 21 tháng 10 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 339/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2021, giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều T, sinh năm 2000. Hộ khẩu thường trú: Ấp R, xã K, huyện T1, tỉnh C1; tạm trú: K 3, phường M, thị xã B2, tỉnh B3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995. Hộ khẩu thường trú: Ấp T3, xã T4, huyện T5, tỉnh Đ; tạm trú: Phòng số 2, Nhà trọ D, Đường N, Tổ 9A, K 4, phường M, thị xã B2, tỉnh B3. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 13 tháng 10 năm 2021.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 13 tháng 10 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Kiều T và ông Nguyễn Văn T2. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Kiều T và ông Nguyễn Văn T2 thuận tình ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đức T6, sinh ngày 01/7/2020 cho bà Nguyễn Kiều T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và ông Nguyễn Văn T2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Nguyễn Kiều T và ông Nguyễn Văn T2 đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể giải quyết việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Kiều T và ông Nguyễn Văn T2 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Kiều T tự nguyện chịu số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0004259 ngày 12/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Trả lại cho bà Nguyễn Kiều T số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - UBND xã Tân Huề, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN Hồ Thế Chính |