vanban.org

Quyết định 24/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2026/QĐ - TAHồ Chí Minh, ngày 27 tháng 01 năm 2026.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đinh Thị Châm.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Duyên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 13-Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Cơ sở cai nghiện ma túy số 06-Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/2026/QĐ-TA ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 2003 tại TP Hồ Chí Minh;

Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở ổn định; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Phạm Văn N, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; tiền án: Không, tiền sự: 01.

Phạm Văn T đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hồ Tiến – Cán bộ Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Minh Khuê- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

* Tại văn bản đề nghị số 46/ĐN-CNBB ngày 28-11-2025 và tại phiên họp xét đề nghị, Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị như sau:

Ngày 21-11-2025, Phạm Văn T bị Công an xã L mời đến trụ sở Công an xã để làm việc, tại đây phát hiện Phạm Văn T dương tính với chất ma tuý. Ngày 24-11-2025, Trạm Y tế xã L đã có phiếu kết quả xác định tình trạng của Phạm Văn T là người nghiện ma tuý, loại Methaphetamine. Qua xác minh đối tượng Phạm Văn T không có nơi cư trú ổn định, không đồng ý cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện công lập, được quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma tuý.

Do đó, Công an xã L tiến hành lập hồ sơ và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T, thời gian đề nghị là từ 18 tháng đến 24 tháng.

* Ý kiến của người bị đề nghị: Phạm Văn T thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như đại diện Cơ quan đề nghị trình bày, không có ý kiến gì về việc bị lập hồ sơ đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc của Công an. Phạm Văn T đề nghị Toà án xem xét giảm thời gian cai nghiện bắt buộc.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:

- Về trình tự thủ tục: Tòa án nhân dân khu vực 13 đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý đối với Phạm Văn T quy định tại các Điều 3, 8, 9, 10, 12, 13, 17, 18, 19, 20, 21 của Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Về nội dung: Căn cứ vào hồ sơ vụ việc, lời trình bày, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và những người tham gia tố tụng khác đối chiếu với quy định pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an xã L, đưa Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian phù hợp.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào ý kiến của kiểm sát viên, đại diện cơ quan đề nghị và người đề nghị.

XÉT THẤY:

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị của Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Phạm Văn T là còn thời hiệu và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại các Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025).

2. Về nội dung:

Phạm Văn T không có nơi cư trú ổn định. Ngày 17-11-2025, Phạm Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24-11-2025 của Trạm y tế xã L kết luận đối tượng Phạm Văn T nghiện ma túy, loại Methaphetamine.

Phạm Văn T là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện việc cai nghiện tự nguyện. Do đó, việc lập hồ sơ và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Văn T của cơ quan đề nghị là phù hợp quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và Điều 40, 41, 42 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Xét thấy: Nghiện ma túy làm giảm sức khỏe của bản thân người sử dụng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bản thân Phạm Văn T khai nhận sử dụng ma túy từ năm 2025 cho đến nay. Do đó cần áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T một thời gian để đối tượng được cai nghiện.

Tuy nhiên, Phạm Văn T tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ để xem xét khi áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 3, 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và 131 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025); Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 18, 20, 21, 23, 24 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã L và Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6, thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ