vanban.org

Quyết định 24/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Công N. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Ấp C, xã X, tỉnh Đồng Nai là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày 29-11-2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
  • Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2025/QĐ-TAĐồng Nai, ngày 18 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Cẩm Phường

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Việt Dũng

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thụ lý số 21/2025/TLST-XLPVHC ngày 03-12-2025, về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 05 tháng 12 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên họp số 21/TB-TA ngày 11/12/2025 đối với:

Họ và tên: Lương Công N, sinh ngày 03-3-1980; căn cước công dân số 054080009720; nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nơi đăng ký thường trú: thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; con ông Lương Công O, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Võ Thị L, sinh năm 1954 (đã chết); tiền án, tiền sự: 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản.

Được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai quản lý trong thời gian tiến hành thủ tục đề nghị kể từ ngày 29-11-2025 cho đến nay, (Có đơn đề nghị vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Lê Tuấn T - Công an viên phường X.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Đồng Nai: ông Nguyễn Văn Báu

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

1. Tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

L1 Công Nhân bắt đầu sử dụng ma tuý vào năm 2022, loại ma túy thường sử dụng là Methamphetamine, hình thức là hút.

Vào 25-11-2025, N sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 28-11-2025, phát hiện N có biểu hiện nghi vấn, Công an phường X phối hợp với Trạm y tế phường Xuân Lập kiểm tra nhanh phát hiện N dương tính với ma túy đá (Methamphetamine). Công an phường X đã ban hành Thông báo số 06/TB-CAP ngày 28 tháng 11 năm 2025, thông báo cho N tiến hành đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng N không thực hiện. Do đó, cùng ngày Công an phường X đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Lương Công N, đồng thời thông báo về việc lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị tham gia phiên họp

Tại Văn bản số 23/ĐN-CNBB ngày 03 tháng 12 năm 2025, Công an phường X đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Lương Công N. Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên đề nghị.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên họp

Về đối tượng áp dụng: việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với L1 Công Nhân là đúng theo quy định tại Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị. Về thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc: đề nghị áp dụng thời gian từ 22 đến 24 tháng.

4. Ý kiến của người bị đề nghị

Quá trình lập hồ sơ, L1 Công Nhân thừa nhận hành vi vi phạm; tại phiên họp vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, sau khi xem xét ý kiến của những người tham gia phiên họp, Tòa án nhận định như sau:

Về sự có mặt của người tham gia phiên họp

Người bị đề vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xem xét vắng mặt, do đó Tòa án mở phiên họp vắng mặt người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị

Hồ sơ đề nghị được Công an phường X, tỉnh Đồng Nai lập đúng thẩm quyền, đảm bảo về thời hiệu; thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục lập và chuyển hồ sơ đề nghị đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ, về quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 184/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ, quy định về thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định Chính phủ trong lĩnh vực an ninh trật tự).

Về nội dung đề nghị

Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ đề nghị, lời khai thừa nhận của người bị đề nghị, đã có đủ cơ sở kết luận, Lương Công N là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 3 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm

Ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, là nguyên nhân của các tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Công N, tạo điều kiện cho L1 Công Nhân chữa bệnh, lao động, học nghề, học văn hóa dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.

Về tình tiết tăng nặng Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ

Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về nhân thân: Đối tượng L1 Công Nhân có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, không nơi cư trú ổn định, sử dụng ma túy trái phép, không đăng ký cai nghiện tự nghiện nên cần có mức thời gian cai nghiện đủ dài để N cắt cơn, từ bỏ ma túy.

Ý kiến của đại diện Công an phường X, tỉnh Đồng Nai và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai về việc đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 20, 22, 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 3 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

- Các điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Công N.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Ấp C, xã X, tỉnh Đồng Nai là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày 29-11-2025.

3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; người bị áp dụng được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường X, tỉnh Đồng Nai phối hợp với Công an tỉnh Đ thi hành Quyết định này theo luật định.

Cỡ chữ