- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu M.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2023/QĐ-XLHC Ngày: 18/5/2023 | Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần phiên họp gồm:
1. Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thu Huyền
2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc – Cán bộ Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội
Với sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Xuân Trường – Phó phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T (có mặt)
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận T: Ông Dương Xuân Quang - Kiểm sát viên (có mặt)
Ngày 18 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội tiến hành phiên họp xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Theo Quyết định mở phiên họp số 21/2023/QĐ-TA ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Chu M; Giới tính: Nam; Sinh năm 1973; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nguyên quán: Hà Nội; HKTT: Số 27B Đ, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số 35 ngõ 264/21 A, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; Con ông: Chu T (đã chết); Con bà: Vũ Thị T (đã chết). Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 2003 TAND quận B xử phạt 6 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ.
- Năm 1994 Công an quận B xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
- Năm 2000 đưa vào cơ sở cai cai nghiện bắt buộc 12 tháng.
- Năm 2012 Công an phường T xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
- Năm 2017 đưa vào cơ sở cai cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
Bị đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội ngày 10/4/2023.
(Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).
NHẬN THẤY
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm là anh Chu M có lý lịch nêu trên.
Theo hồ sơ thể hiện từ cuối năm 2019 tới nay, anh Chu M là người nghiện ma túy Heroine, M sử dụng dưới hình thức hít. Lần gần đây nhất, Chu M sử dụng ma túy vào ngày 05/4/2023. Ngày 09/04/2023, Công an phường N mời Chu M đến trụ sở để tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu. Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế phường N thể hiện Chu M nghiện ma túy loại Heroine. Do đó UBND phường N, quận T đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối Chu M.
Tại văn bản số 21/ĐN-CNBB, ngày 05/05/2023 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T đề nghị Tòa án nhân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu M và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Tòa án nhân dân quận T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T trình bày vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án nhân dân quận T xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Chu M với thời hạn là 24 tháng.
Người bị đề nghị có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Việc lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Chu M là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân quận T thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Cơ quan đề nghị đã làm đầy đủ thủ tục theo đúng khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và kiểm sát viên.
XÉT THẤY
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị được lập theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Công an và UBND phường N lập hồ sơ theo quy định đã được Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân quận T xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Người bị đề nghị Chu M là người nghiện ma túy đã trên 18 tuổi, có nơi ở cố định nhưng không có khả năng tự cai nghiện ma túy. Tình trạng nghiện ma túy được chứng minh bởi biên bản tìm chất ma túy trong cơ thể Chu M lập ngày 09/04/2023 tại Trạm y tế phường N, quận T.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và lời khai của người bị đề nghị. Có đủ cơ sở để kết luận anh Chu M là người nghiện ma túy, có nơi ở cố định nhưng không có khả năng tự cai nghiện ma túy. Do đó,việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với M là cần thiết, có căn cứ pháp luật.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 19; Các Điều 22, 23, 24, 30, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Áp dụng các Điều 95, 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Áp dụng các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 qui định chi tiết một số điều của Luật, phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cái nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu M.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày 10/4/2023.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có quyền kiến nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố Quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân Quận T có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T, Công an quận T thi hành Quyết định này khi có hiệu lực pháp luật ./.
| Nơi nhận: - Công an quậnT (Để thực hiện) - Phòng LĐTBXH quận T (Để thực hiện) - UBND phường N, quận T, thành phố Hà Nội. - Người bị đề nghị - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán Nguyễn Thu Huyền |