vanban.org

Quyết định 24/2022/HNGĐ-TT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 08/2022/KN-DS ngày

13/6/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh [2] Hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 08/2022/KN-DS ngày
  • Căn cứ chính? Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Quyết định tái thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2022/HNGĐ-TT
Ngày: 28/9/2022
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Xuân

Các Thẩm phán:

Ông Võ Văn Khoa

Ông Tô Chánh Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Vũ Phương, Thẩm tra viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử theo thủ tục tái thẩm đối với vụ án Hôn

nhân và gia đình về việc “Ly hôn”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị P, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 082 Ấp A, xã

Trường Khánh, huyện LP, tỉnh ST.

- Bị đơn: Ông SPS, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 90/6 đường Quốc Hương,

phường Thảo Điền, Quận 2 (nay là thành phố Thủ Đức). Thành phố Hồ Chí

Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Thạch Thị P và ông SPS kết hôn ngày 09/8/2015, có đăng ký tại

Queensland, Australia theo Giấy chứng nhận kết hôn số MC1684993VS, đến

ngày 08/3/2016 được Ủy ban nhân dân huyện LP, tỉnh ST cấp Giấy trích lục ghi

chú kết hôn số 01/TLGCKH.

Quá trình chung sống, vợ chồng bà P, ông SPS có 02 con chung tên

Stansfield Samuel Phú Khôi, sinh ngày 18/12/2015 và Phương K sinh ngày 12/12/2017.

Năm 2018, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể kéo dài cuộc

sống chung nên bà P và ông SPS đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (Quận 2 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh quyết định (tóm tắt):…

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về con chung: Ông SPS và bà Thạch Thị P có 02 con chung tên Stansfield

Samuel Phú Khôi, sinh ngày 18/12/2015 và Phương K, sinh ngày 12/12/2017. Ông bà thỏa thuận giao con chung tên Stansfield Samuel Phú Khôi cho ông SPS trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, giao con chung tên Phương K cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục…”.

Do nghi ngờ cháu K không phải là con đẻ của mình nên ông SPS đã yêu

cầu cơ quan chuyên môn giám định AND để xác định quan hệ huyết thống cha con. Theo kết quả giám định AND ngày 09/3/2018 của Trung tâm xét nghiệm AND thuộc Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Dịch vụ Testings thì giữa ông SPS và cháu K không có mối quan hệ huyết thống cha - con.

Sau khi biết được kết quả giám định AND, ông SPS đã có đơn yêu cầu

Tòa án nhân dân Quận 2 xác định cháu K không phải con đẻ của ông. Sau khi Tòa án nhân dân Quận 2 thụ lý vụ án, ông SPS và bà P đã thỏa thuận được với nhau cùng xác định cháu K không phải con đẻ của ông SPS.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số

431/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (Quận 2 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh quyết định (tóm tắt):

“1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:…

2. Sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Ông SPS và bà Thạch Thị P cùng xác nhận cháu Phương K không phải là

con đẻ của ông SPS trong thời kỳ hôn nhân”.

Tại Văn bản số 52/TGĐ&NCTN-TA ngày 04/02/2020, Chánh án Tòa án

nhân dân tỉnh ST kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 431/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2018 (đều của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh), với lý

do: Các Quyết định sơ thẩm nêu trên đều đang có hiệu lực pháp luật nhưng lại

có sự mâu thuẫn về việc xác định mối quan hệ cha - con giữa ông SPS và cháu

K. Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến việc Tòa án nhân dân tỉnh ST thụ lý giải

quyết vụ án hôn nhân gia đình về “Tranh chấp xác nhận cha cho con chưa thành

niên và tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con và đòi lại tiền cấp dưỡng” giữa

nguyên đơn là bà Thạch Thị P với bị đơn là ông LJW, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan là ông SPS.

Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm số 08/2022/KN-DS ngày 13/6/2022,

Chánh án Tòa án nhân dân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kháng

nghị đối với Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân

thành phố Thủ Đức (Quận 2 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa án nhân

dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tái thẩm theo hướng hủy và đình

chỉ việc giải quyết một phần vụ án (phần về xác định cháu K là con chung của

ông SPS và bà P).

Tại phiên tòa tái thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Chánh án

Tòa án nhân dân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân

Quận 2 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh là Quyết định của Tòa án đang có hiệu lực

pháp luật, theo đó cháu K được xác định là con chung của ông SPS và bà Thạch

Thị P. Tuy nhiên, theo kết quả giám định AND ngày 09/3/2018 của Trung tâm

xét nghiệm AND thuộc Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Dịch vụ

Testings (địa chỉ: Tầng 8, tòa nhà Royal Building, Số 151 Võ Thị Sáu, Phường

6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh) thì giữa ông SPS và cháu K không có mối

quan hệ huyết thống cha - con. Kết quả xét nghiệm AND nêu trên là tình tiết

mới làm thay đổi một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa

thuận của các đương sự số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 của Tòa án

nhân dân Quận 2 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là về phần về xác định

cháu K là con chung của ông SPS và bà P.

Khi ông SPS có đơn yêu cầu xác định cháu K không phải là con đẻ

của ông, lẽ ra Tòa án nhân dân Quận 2 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh không

được thụ lý, giải quyết, mà phải hướng dẫn ông SPS gửi đơn đề nghị hoặc tự

mình có văn bản kiến nghị đến người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm Quyết

định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số

42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (phần về xác định cháu K là con chung của ông SPS và bà P), vì xuất hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản một phần nội dung của vụ án nêu trên. Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết và ban hành Quyết định số 431/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2018, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự “cùng xác nhận cháu Phương K không phải là con đẻ của ông SPS” là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, tạo ra mâu thuẫn trong việc giải quyết cùng một nội dung quan hệ pháp luật, vì Quyết định số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 là quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật.

Theo Văn bản kiến nghị số 52/TGĐ&NCTN-TA ngày 04/02/2020 của

Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh ST thì tại Kết quả xét nghiệm gen số 49/DVADN ngày 20/3/2018 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định cháu K là con đẻ của ông LJW. Nội dung này không mâu thuẫn với Quyết định số 431/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh, nên chỉ cần thiết hủy một phần Quyết định số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 mà không cần phải hủy một phần Quyết định số 431/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2018 nêu trên. Tuy nhiên, những người tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết và ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 431/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh cần nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 356, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1] Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 08/2022/KN-DS ngày

13/6/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

[2] Hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận

của các đương sự số 42/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đối với vụ án “Ly hôn” giữa nguyên đơn là bà Thạch Thị P, bị đơn là ông SPS (phần về xác định cháu Phương K là con chung của ông SPS và bà Thạch Thị P) và đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với phần quyết định này.

[3] Quyết định tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ