vanban.org

Quyết định 24/2020/HSPT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 13/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/07/2019.

Về án phí: Bị cáo Trần Hoài N phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoài N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/07/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HSPT
Ngày: 13/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Long

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Trọng Danh

Bà Dương Thị Hổng Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sátnhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2019/TLPT-HS ngày 17 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Trần Hoài N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Hoài N - sinh ngày 13 tháng 4 năm 1987 tại tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Tổ 38 phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K (sinh năm: 1954) và bà Tô Thị T (sinh năm: 1954) ; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Lê Thị Xuân H (sinh năm: 1988) và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Chưa

Nhân thân: Ngày 18 tháng 9 năm 2019 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02 tháng 7 năm 2019, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/7/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Hoài N dùng điện thoại có số thuê bao 0935338768 liên lạc với số điện thoại 0866674024 của đối tượng tên B (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy đá với giá 1.770.000 đồng. Sau đó, N điều khiển xe mô tô BKS 92G1-088.85 đến kiệt 420 L, thành phố Đà Nẵng để giao dịch ma túy. Nam cất ma túy vào túi xách mang bên người và điều khiển xe về đến ngã tư đường H – V, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, lúc này khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang và thu giữ gói ma túy nói. Trần Hoài N khai nhận, N còn mua ma túy của thanh niên tên B 02 lần khác, mỗi lần 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng và 700.000 đồng tại trước Công viên 29/3, thành phố Đà Nẵng để sử dụng cá nhân.

Tang vật tạm giữ:

- 01 (một) gói nilong có kích thước khoảng (4x10)cm bên trong gói có chứa tinh thể màu trắng là chất ma túy đá, niêm phong ký hiệu A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Microsoft, màu đen có số sim 0935338768; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) nỏ thủy tinh. Những vật chứng này chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời quản lý.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Jupiter BKS 92G1-088.85. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đang tạm thời quản lý.

Quá trình điều tra, Trần Hoài N khai nhận mục đích mua ma túy là để sử dụng cá nhân.

Theo kết luận giám định số 193/GĐ-MT ngày 08/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu tinh thể: 2,305 gam.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 130/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2019.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02/12/2019, bị cáo Trần Hoài N có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét theo trình tự phúc thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

+ Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoài N là đảm bảo hợp lệ.

+ Về nội dung kháng cáo: Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có cơ sở; trọng lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là tương đối lớn nên mức án 24 tháng tù mà Tòa cấp sơ thẩm đã quyết định là phù hợp. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trần Hoài N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hoài N khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Bản án sơ thẩm đã kết luận. Với hành vi tàng trữ trái phép 2,305 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, Trần Hoài N đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương; số lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ để sử dụng là tương đối nhiều; ngoài lần bị bắt quả tang bị cáo còn tự khai nhận trước đó cũng đã từng 2 lần mua ma túy của tên B để sử dụng nên cần xử nghiêm. Xét các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng cũng như có xét đến nhân thân của bị cáo để xử phạt mức án 2 năm tù là phù hợp, không nặng. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, mà cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoài N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/07/2019.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Hoài N phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ