vanban.org

Quyết định 24/2019/QĐST-VDS — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 11/09/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang miễn thi hành số tiền 3.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang không phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "THA-B231"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang miễn thi hành số tiền 3.
  • Căn cứ chính? Điều 61 Luật Thi hành án dân sự; Điều 62 Luật Thi hành án dân sự; Điều 63 Luật Thi hành án dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2019/QĐST-VDSCai lậy, ngày 11 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xét miễn nghĩa vụ thi hành án

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Phượng.

Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Thảo Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Ông Trần Văn Truyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 231/2019/TLST-VDS ngày 22 tháng 8 năm 2019, về việc “Yêu cầu xét miễn nghĩa vụ thi hành án”, theo Quyết định mở phiên họp số 231/2019/QĐST-VDS, ngày 05 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Cơ quan yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ: Số 20/32 Thanh Tâm, khu phố 4, phường 4, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh Danh - Chi cục trưởng.

Đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09/8/2019): Ông Lê Văn Dinh - Chấp hành viên (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị B, sinh năm 1957 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo bản đề nghị số 48/ĐN-CCTHA ngày 09/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trình bày: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy đang thụ lý hồ sơ thi hành án theo quyết định số 53/QĐ-CCTHA ngày 01/10/2013 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, buộc bà Trần Thị B phải có nghĩa vụ nộp 3.468.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm, bà B nộp được 70.000 đồng, nên còn phải nộp tiếp 3.398.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trong quá trình thi hành án xét thấy: Bà B còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh T, tại thời điểm xác minh bà B đã bỏ địa phương đi làm ăn xa, ít về địa phương, chính quyền địa phương cho biết bà B đi không báo nên không xác định được địa chỉ. Trước khi bỏ địa phương đi làm ăn xa thì bà B không có đất vườn, đất ruộng hay tài sản nào khác để đảm bảo việc thi hành án.

Theo quan điểm số 31/QĐ-VKS, ngày 14/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau: Đồng ý miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, lý do như sau: Tại quyết định thi hành án số 53/QĐ-THA ngày 01/10/2013, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy cho thi hành đối với bà Trần Thị B chịu 3.468.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trong quá trình thi hành án đã thi hành được 70.000 đồng, còn phải nộp tiếp 3.398.750 đồng. Kể từ ngày ra quyết định thi hành án đến nay đã hơn 05 năm. Việc xét miễn nghĩa vụ thi hành án phí đối với bà Trần Thị B là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh về điều kiện thi hành án ngày 08/8/2019 đối với bà Trần Thị B được xác định là chưa có điều kiện thi hành án và việc xác định chưa có điều kiện thi hành án cũng được thể hiện tại quyết định số 336/QĐ-CCTHADS ngày 24/7/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy. Xét thấy, yêu cầu của Chi cục thi hành án huyện Cai Lậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy về việc xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với bà Trần Thị B là có căn cứ chấp nhận.

Về thủ tục đề nghị xét miễn thi hành án đối với bà Trần Thị B, Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 61, 62 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, nhận định:

Trên cơ sở Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 286/2013/QĐST-DS ngày 08/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy ra quyết định thi hành án số 53/QĐ-THA ngày 01/10/2013 buộc bà Trần Thị B phải thi hành số tiền 3.468.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trong quá trình thi hành án đã thi hành được 70.000 đồng, còn phải nộp tiếp 3.398.750 đồng.

Căn cứ vào biên bản xác minh điều kiện thi hành án ngày 08/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy thì hiện tại bà B còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh T, tại thời điểm xác minh bà B đã bỏ địa phương đi làm ăn xa, ít về địa phương, chính quyền địa phương cho biết bà B đi không báo nên không xác định được địa chỉ. Trước khi bỏ địa phương đi làm ăn xa thì bà B không có đất vườn, đất ruộng hay tài sản nào khác để đảm bảo việc thi hành án. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 61 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, Điều 2, Điều 4 Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 15/9/2015, của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, thì đề nghị xét miễn thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy đối với bà Trần Thị B là có căn cứ nên được chấp nhận.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp là có căn cứ nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 61, Điều 62, Điều 63 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014; Điều 2, Điều 4 Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 15/9/2015, của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước.

- Chấp nhận yêu cầu của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang miễn thi hành số tiền 3.398.750 (Ba triệu, ba trăm chín mươi tám ngàn, bảy trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị B.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang không phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Riêng bà Trần Thị B có quyền kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ