- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2015/TLST-KDTM ngày 20 tháng 7 năm 2015 về việc“Tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh” giữa:
- Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2019/QĐĐC-KDTM | Nam Từ Liêm, ngày 23 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
- Căn cứ vào các Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 24/TLST-KDTM ngày 20 tháng 7 năm 2015 về việc “Tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh”;
Xét thấy:
Ngày 02/10/2012, Công ty cổ phần đầu tư P nộp đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là Ngân hàng TMCP phát triển H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán theo Bảo lãnh thanh toán số 27.12.11/BL1-HDB013 ngày 27/12/2011 của Ngân hàng TMCP phát triển H, Chi nhánh T phát hành, do ông Lê Quý H ký.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 27/8/2015, Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm nhận được Công văn số 809/ANĐT-Đ4 của Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà nội thông báo về việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Quý H, nguyên Giám đốc ngân hàng H Chi nhánh T về tội Giả mạo trong công tác và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đã có hành vi ký phát hành các chứng thư bảo lãnh thanh toán vượt quá thẩm quyền và trái quy định, trong đó có Bảo lãnh thanh toán số 27.12.11/BL1-HDB013 ngày 27/12/2011.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 174/2018/HS-ST ngày 10/5/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên bố Lê Qúy H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xử phạt Lê Quý H tù chung thân. Về dân sự liên quan đến Bảo lãnh thanh toán số 27.12.11/BL1-HDB013 ngày 27/12/2011, Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Lê Quý H và Phạm Ngọc N phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho Công ty cổ phần đầu tư P .
Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2018/HS-ST ngày 10/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có kháng cáo, kháng nghị.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 179/2019/HS-PT ngày 02/4/2019 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm. Về dân sự, bản án đã quyết định: Các bị cáo Lê Qúy H, Phạm Ngọc N phải liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần đầu tư P 19.786.000.000 đồng. Trong đó, H phải bồi thường 18.286.000.000 đồng, Nam phải bồi thường 1.500.000 đồng.
Bản án hình sự phúc thẩm số 179/2019/HS-PT ngày 02/4/2019 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, nội dung yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần đầu tư P đối với Ngân hàng TMCP phát triển H đã được giải quyết trong Bản án hình sự phúc thẩm số 179/2019/HS-PT ngày 02/4/2019 của Toà án nhân dân Cấp cao tại Hà nội. Do đó, vụ án được đình chỉ giải quyết theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2015/TLST-KDTM ngày 20 tháng 7 năm 2015 về việc“Tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh” giữa:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần đầu tư P
Trụ sở: Số 01 B, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lã Phương C1 và ông Lê Tuấn G
Bị đơn: Ngân hàng TMCP phát triển H
Trụ sở: Số X, đường K, quận M, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – Tổng giám đốc
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Trung D - chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần điện tử V;
Trụ sở: Số 34B, dãy 2, ngõ 8, tập thể S, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Số 10 ngõ R, đường P, quận C, thành phố Hà nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức Q1 – Chức vụ: Giám đốc
2. Hậu quả của việc đình chỉ chỉ giải quyết vụ án:
Trả lại Công ty cổ phần đầu tư P toàn bộ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 65.640.000đ (sáu lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Từ Liêm (nay là quận Nam Từ Liêm) theo Biên lai số AL/2010/00001341 ngày 15 tháng 10 năm 2012.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Đặng Thu Phương |