- Tranh chấp gì? "Ông Nguyễn Xuân D kiện Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh."
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân D, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 501/2018/QĐST-HC ngày 26 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính; Điều 123 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng An Thanh.
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Công.
Bà Huỳnh Thanh Duyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 501/2018/QĐ-ST ngày 26 tháng 4 năm 2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 123; điểm b, g, h khoản 1 Điều 143; Điều 144 và Điều 165 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 3; Điều 6 của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009; quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính”, giữa:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1941.
Địa chỉ: 394 B, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; 06 N, phường T1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị kiện:
1/ Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 560 B, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 560 B, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 9 tháng 5 năm 2018, người khởi kiện là ông Nguyễn Xuân D kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 501/2018/QĐST-HC ngày 26 tháng 4 năm 2018 với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá đầy đủ về hành vi hành chính bị kiện; việc xác định hết thời hiệu khởi kiện đối với Điều 2 của Quyết định 3811/QĐ-UBND ngày 6 tháng 11 năm 2015 là sai; có nhiều vi phạm tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
XÉT THẤY:
Ông Nguyễn Xuân D có các yêu cầu khởi kiện: hủy Văn bản số 43/QLN ngày 16 tháng 02 năm 2017 của Đội quản lý nhà Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời đơn của ông Nguyễn Xuân D kiến nghị hoàn trả tiền thuê nhà đối với căn nhà số 378 đường B, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; hủy Điều 2 của Quyết định 3811/QĐ-UBND ngày 6 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 36/QĐ-UB ngày 11 tháng 10 năm 2004; hủy Văn bản số 233/UBND-TCD ngày 17 tháng 3 năm 2016 của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời đơn của ông Nguyễn Xuân D kiến nghị liên quan đến việc thuê nhà Nhà nước đối với căn nhà tại địa chỉ số 378 đường B, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; yêu cầu Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường 133.289.446 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông D đã rút yêu cầu khởi kiện về việc hủy Văn bản số 43/QLN ngày 16 tháng 02 năm 2017 của Đội quản lý nhà Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông D đã khẳng định với Hội đồng phúc thẩm không khởi kiện và không kháng cáo về yêu cầu này.
Sổ ký nhận văn bản của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông D ký nhận Quyết định 3811/QĐ-UBND ngày 6 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 10 tháng 11 năm 2015. Ông D thừa nhận đã nhận Quyết định trên vào tháng 11 năm 2015, không khiếu nại từ khi nhận đến khi nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy Điều 2 của Quyết định 3811/QĐ-UBND ngày 6 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 12 tháng 4 năm 2017. Ngoài ra, ông D trình bày với Hội đồng phúc thẩm là ông không gặp sự kiện bất khả kháng cản trở việc khởi kiện, ông cho rằng muốn kiện lúc nào thì kiện và ông muốn đợi để áp dụng Luật tố tụng hành chính năm 2015. Vì vậy, yêu cầu này của ông D đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.
Văn bản số 233/UBND-TCD ngày 17 tháng 3 năm 2016 của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời đơn của ông Nguyễn Xuân D kiến nghị liên quan đến việc thuê nhà Nhà nước đối với căn nhà tại địa chỉ số 378 đường B, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung hướng dẫn ông D giải quyết Hợp đồng thuê nhà số 01/HT ngày 11 tháng 11 năm 2004. Văn bản này không làm phát sinh nghĩa vụ, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông D. Do đó, văn bản này không phải là đối tượng khởi kiện hành chính.
Tại phiên tòa sơ thẩm và khi trình bày với Hội đồng phúc thẩm, ông D không chứng minh được hành vi trái pháp luật của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh hay Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh gây ra thiệt hại cho ông. Vì vậy, yêu cầu Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường 133.289.446 đồng của ông D là chưa đủ điều kiện khởi kiện.
Các yêu cầu khởi kiện của ông D thuộc trường hợp đã được rút yêu cầu khởi kiện, hết thời hiệu khởi kiện, không phải là đối tượng khởi kiện và chưa đủ điều kiện khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đối với các yêu cầu khởi kiện của ông D là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến như sau: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân D, áp dụng điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Quan điểm này phù hợp với quan điểm của Hội đồng phúc thẩm nên Hội đồng phúc thẩm chấp nhận.
Ông D không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 ngày ngày 23 tháng 11 năm 2009 thì ông D (sinh năm 1941) là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân D, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 501/2018/QĐST-HC ngày 26 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Xuân D được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự (3); - Lưu VP (3), hồ sơ vụ án, NTDM, 12. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Đặng An Thanh |