vanban.org

Quyết định 24/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Dương Xuân K:

Tuyên bố bà Đinh Thị Ngọc L, sinh năm 1963; Nơi cư trú cuối cùng: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã chết vào ngày 01/01/2011. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà L được giải quyết theo quy định của pháp luật về t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Dương Xuân K"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Dương Xuân K:
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Số: 24/2018/ QĐDS-ST
Ngày: 17/9/2018
V/v: “Tuyên bố một người đã chết”

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI ĐÃ CHẾT

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM-TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Chủ tọa phiên họp: Bà Trịnh Thị Quyên - Thẩm phán;

Thư ký phiên họp: Ông Đào Duy Mạnh - Thẩm tra viên;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên họp: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 54/ 2018/TLST-VDS, ngày 14 tháng 3 năm 2018, về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp số: 167/2018/QĐ-MPH ngày 11 tháng 9 năm 2018, để xét yêu cầu của:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Dương Xuân K, sinh năm 1961. Trú tại: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Dương Văn M, sinh năm 1987.

- Anh Dương Hồng Q, sinh năm 1989.

- Anh Dương Tiến T, sinh năm 1994

- Anh Dương Xuân Tiến P, sinh năm 1996.

Cùng trú tại: Trú tại: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai .

- Ông Đinh Văn H, sinh năm 1945 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1945 cùng trú tại: Số 617, Đường 767, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Anh Q, anh T, anh P, bà H, bà T ủy quyền cho anh Dương Văn M tham gia tố tụng (Theo giấy ủy quyền đề ngày 06/8/2018)

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố bà Đinh Thị Ngọc L, sinh năm 1963; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai là đã chết.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom nhận định:

Về Tố tụng:

Xét đơn yêu cầu của ông Dương Xuân K thì đây là việc dân sự về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết”. Bà Đinh Thị Ngọc L có nơi cư trú cuối cùng tại: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên việc giải quyết yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom theo Điều 27, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo Đơn yêu cầu và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án của ông Dương Xuân K thì thấy ông và bà Đinh Thị Ngọc L kết hôn năm 1986. Ông và bà L có 04 người con gồm: Anh Dương Văn M, anh Dương Hồng Q, anh Dương Tiến T, anh Dương Xuân Tiến P.

Do cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà L không có hạnh phúc nên đã được Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom giải quyết ly hôn tại bản án số: 09/2010/HNGĐ-ST ngày 14/01/2010. Khi ly hôn về tài sản chung chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng sau khi ly hôn xong, bà L đã bỏ đi khỏi địa phương, ông không nhớ rõ ngày tháng chỉ nhớ là năm 2010 cho đến nay không có tin tức mặc dù gia đình đã có đăng báo và tìm kiếm. Vì lý do cần bổ túc hồ sơ làm thủ tục chia tài sản chung của ông và bà L nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L đã chết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các anh Dương Văn M, anh Dương Hồng Q, anh Dương Tiến T, anh Dương Xuân Tiến P và ông Đinh Văn H, bà Vũ Thị T trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án đều khai thống nhất với lời khai của ông K về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L, sinh năm 1963 đã chết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu quan điểm tại phiên họp: Thẩm phán và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên họp. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 39, 392, 393 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà ông Dương Xuân K.

Nhân định của Tòa án: Điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”.

Căn cứ lời trình bày của các đương sự, theo kết quả xác nhận của UBND xã Bắc Sơn và kết quả xác minh của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom tại công an xã Bắc S thì “bà Đinh Thị Ngọc L, sinh năm 1963, có đăng ký HKTT tại số: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai từ năm 2010 cho đến nay đi đâu không rõ”.

Do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của bà L nên thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy xác định bà L đã chết vào ngày 01/01/2011 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015.

Ngày 21/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã ban hành Quyết định số 06/2018/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà L đã được đăng trên Báo Lao Động 03 số liên tiếp (73,74,75 ra các ngày 03, 04 và 05/4/2018), Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và được phát trên đài tiếng nói Việt Nam trong 03 ngày liên tiếp (ngày 03,04 và 05/5/2018 ). Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực là bà L vẫn còn sống.

Từ những căn cứ trên, xét thấy việc ông Dương Xuân K yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Đinh Thị Ngọc L cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên họp là có cơ sở nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Xuân K phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 khoản 3 Điều 367, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 391, Điều 392, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71, Điều 72, Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Dương Xuân K:

Tuyên bố bà Đinh Thị Ngọc L, sinh năm 1963; Nơi cư trú cuối cùng: Số 15, đường 9, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã chết vào ngày 01/01/2011.

Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Dương Xuân K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng lệ phí ông K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo theo biên lai thu số 000260 ngày 14/3/2018. Ông K đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ