- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố hạn chế khả năng nhận thức"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị L;
- Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN TỈNH B Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 238/2021/QĐST-DS | HN, ngày 30 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức
và làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH B Đ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Vương
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Phường - Cán bộ Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên họp:
Ông Trương Văn Đình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN mở phiên
họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 243/2021/TLST-DS ngày 11/5/2021 về “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 334/QĐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2021.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1965
Địa chỉ: Thôn Ph Th 1, xã T H, huyện L H, tỉnh L Đ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Ph Th 1, xã T H, huyện L H, tỉnh L Đ
- Chị Nguyễn Thị Hồng Nhung, sinh năm 1989
- Anh Nguyễn Minh Khôi, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn Ph Th 1, xã T H, huyện L H, tỉnh L Đ
(Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu mở phiên họp vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và biên bản lấy lời khai ngày
11/5/2021, bà Đặng Thị L trình bày:
Bà L là vợ ông Nguyễn Văn S. Năm 1987, ông S bị tai nạn lao động, chấn
thương ở đầu và bắt đầu có những triệu chứng bị bệnh tâm thần như thường xuyên đập phá đồ đạc, bỏ đi lang thang và ở trong tình trạng nhận thức hành vi của mình không rõ ràng. Gia đình đưa ông Sáng đi điều trị tại Bệnh viện Tâm thần S, QN, BĐ nhưng diễn biến bệnh của ông ngày càng nặng. Lúc này, đang ở nhờ nhà chị họ ông S là bà Nguyễn Thị B, nên chị B đã đưa ông vào nuôi dưỡng tại Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần HN cho đến nay. Từ khi được nuôi dưỡng tại Trung tâm, bệnh tình ông S không có dấu hiệu thuyên giảm.
Nay để đảm bảo quyền lợi của ông S và các con của ông S, bà L yêu cầu
Tòa án tuyên bố ông S có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Tại bản tự khai, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chị Nguyễn Thị
Lan H, Nguyễn Thị Hồng N, anh Nguyễn Minh K cùng trình bày: Các anh, chị là con của ông S và L, tình trạng bệnh lý của ông S như bà L trình bày là đúng, mong Tòa xem xét giải quyết theo yêu cầu của bà L, Các anh, chị thống nhất ý kiến và không có bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN có ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ
pháp luật, thụ lý giải quyết theo đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ các quy định về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Việc thông báo thụ lý, việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng, triệu tập đầy đủ các đương sự để lấy lời khai. Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà
L. Tuyên bố ông Nguyễn Văn S có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đề nghị cử người giám hộ cho ông S theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã HN nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Hiện nay, ông Nguyễn Văn S đang sinh sống tại Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần HN, có địa chỉ: Khu phố PD 1, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc bà Đặng Thị L yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959, địa chỉ: Địa chỉ: Thôn Ph Th 1, xã T H, huyện L H, tỉnh L Đ có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ.
Về tố tụng: Bà Đặng Thị L, chị Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Thị Hồng N, anh Nguyễn Minh K có đơn yêu cầu xin vắng mặt tại phiên họp, căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Kết luận Giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 305/KLGĐYC ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Miền Trung kết luận đối với trường hợp bệnh của ông Nguyễn Văn S:
“a. Kết luận về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót ổn định (F20.02).
b. Kết luận về năng lực hành vi dân sự: Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”
Xét lời khai của người yêu cầu cùng các biên bản xác minh tại Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần HN đều thấy rằng hiện nay ông Nguyễn Văn S khó tiếp xúc, hay nói nhảm một mình, đêm ít ngủ, không chú ý vệ sinh cá nhân, hay đập phá đồ đạc, có trí nhớ, trí tuệ giảm sút, sống phụ thuộc. Ông S cần có người chăm sóc và giám sát. Vì vậy, căn cứ Điều 23 Bộ luật dân sự, bà L yêu cầu tuyên bố ông S có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là có cơ sở để chấp nhận. Chỉ định bà Đặng Thị L làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn S. Bà L có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các điều 55, 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát về quá trình giải quyết việc dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà L nộp theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; các điều 361, 367; 370; 371; 372; 376; 378 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 23, 54 Bộ luật Dân sự; Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị L;
Tuyên bố ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1959, địa chỉ: thôn PT 1, xã TH, huyện LH, tỉnh LĐ là người có khó khăn trong nhận thức và làm chỉ hành vi dân sự.
Chỉ định bà Đặng Thị L, sinh năm 1965, hộ khẩu thường trú: thôn PT 1, xã TH, huyện LH, tỉnh LĐ, là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn S. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại các điều 55, 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà L nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) sung vào Ngân sách nhà nước, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà L đã nộp theo biên lai thu số 0001384 ngày 11/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã HN.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TX. HN; - CC THA dân sự TX HN; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thanh Vương |