vanban.org

Quyết định 238/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/06/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Ngô Văn T: Tuyên bố ông Ngô Văn C sinh năm 1939; địa chỉ: Đường P, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự;

2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Ngô Văn T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0027253 ngày 03/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Ngô Văn T đã nộp đủ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ngô Văn T - Ngô Văn C"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Ngô Văn T: Tuyên bố ông Ngô Văn C sinh năm 1939; địa chỉ: Đường P, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
H PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 238/2017/QĐDS-ST
Ngày: 30/6/2017
V/v: “Tuyên bố một người
mất năng lực hành vi dân sự”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – H PHỐ HỔ CHÍ MINH

Với H phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Kim Nguyên - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Minh Hằng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 8, H phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, H phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phan Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, H phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 201/2017/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2017 về yêu cầu “tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 85/2017/QĐPH-ST ngày 19 tháng 6 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1936; địa chỉ: Đường P, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Ngô Thị Bích C, sinh năm 1973; địa chỉ: Đường C, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu (Giấy ủy quyền ngày 24/4/2017).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn H, sinh năm: 1941, hiện đang điều trị tại Trung tâm Điều dưỡng Tâm thần T trực thuộc Sở L Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện U, tỉnh B.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố ông Ngô Văn C, sinh năm 1939; địa chỉ: Đường P, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ vào Bản trích lục bộ khai sanh của ông Ngô Văn T số hiệu 415 trích y bổn chánh năm 1966 và Bản trích lục bộ khai sanh của ông Ngô Văn C số hiệu 181 trích y bổn chánh ngày 08/02/1966 (đều ghi tên cha là ông Ngô Văn N, mẹ là bà Võ Thị H) nên xác định giữa ông T và ông C có quan hệ huyết thống. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 có đủ cơ sở kết luận ông Ngô Văn T là người có quyền yêu cầu tuyên bố ông Ngô Văn C mất năng lực hành vi dân sự.

Ông Ngô Văn C hiện đang cư trú tại Quận H nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

2. Về thủ tục tố tụng:

Bà Ngô Thị Bích C là đại diện hợp pháp của người yêu cầu có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt bà C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn H hiện đang được điều trị bệnh tại Trung tâm Điều dưỡng Tâm thần T và Tòa án cũng đang thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với ông H tại hồ sơ dân sự khác. Do đó, Tòa án không thể yêu cầu ông H tự khai hay lấy lời khai ông H được.

3. Về yêu cầu của đương sự:

Theo Đơn yêu cầu và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án của bà Ngô Thị Bích C là người đại diện hợp pháp của người yêu cầu thì cha mẹ của ông Ngô Văn T là ông Ngô Văn N, chết năm 1976 (Giấy chứng tử số 542, cấp ngày 19/8/1976 tại Ủy ban nhân dân Quận H) và bà Võ Thị H, chết năm 1998 (Giấy chứng tử số 38, quyển số 01/98, cấp ngày 25/4/1998 tại Ủy ban nhân dân Phường O, Quận H). Cha mẹ ông T chung sống có 03 người con là ông Ngô Văn T, sinh năm 1936; ông Ngô Văn C, sinh năm 1939; ông Ngô Văn H, sinh năm 1941.

Ông Ngô Văn C bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không có vợ con, có giấy xác nhận khuyết tật bị bệnh tâm thần nặng và được Ủy ban nhân dân Phường O, Quận H cho hưởng trợ cấp hàng tháng. Vì lý do cần bổ túc hồ sơ nhà đất nên ông Ngô Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn C mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Văn T.

Xét, tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần số 2018/2017/KLGĐTC ngày 06/06/2017 của Trung tâm Pháp y Tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Y tế kết luận ông Ngô Văn C bị bệnh “Tâm thần phân liệt, thể di chứng, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần (F20.5.1-ICD10); Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Do đó, việc ông Ngô Văn T yêu cầu tuyên bố ông Ngô Văn C mất năng lực hành vi dân sự cũng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên họp là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.

4. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 376 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Ngô Văn T: Tuyên bố ông Ngô Văn C sinh năm 1939; địa chỉ: Đường P, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự;

2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Ngô Văn T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0027253 ngày 03/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Ngô Văn T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Văn T có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ