vanban.org

Quyết định 232/2024/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2024 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Ngụy Thị Lệ

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "NGỤY THỊ L"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Ngụy Thị Lệ
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 232/2024/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 3 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Minh

Các Thẩm phán:

Ông Phan Văn Yên

Ông Phan Nhựt Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

03/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 123, Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, giữa:

Người khởi kiện: Bà Ngụy Thi L, sinh năm 1955

Địa chỉ: số D đường N, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh

Địa chỉ: Khóm 4, thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Phong B - Chủ tịch

Người đại diện theo ủy quyền của Ông Trần Phong B: Ông Diêu Hùng T -

Chức vụ: Phó Chủ tịch

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T;

Địa chỉ: Số E, đường L, phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H - Chức vụ Chủ tịch Ủy ban

nhân dân tỉnh. - Chủ tịch

- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Khóm C, T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị K: Bà Mai Thị N, sinh năm

1957;

Địa chỉ: Số nhà H Đường N, khóm C, T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

- Ông Trần Văn N1, sinh năm 1981

- Chị Thạch Thị Oanh N2, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Số D, đường N, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần B2 (L2)

Địa chỉ: Tòa nhà L, số B T, Quận H, Hà Nội do ông Phạm Doãn S - Chức

vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng B2 làm đại diện.

Tại đơn kháng cáo ngày 19 tháng 10 năm 2023, người khởi kiện là bà

Ngụy Thị L1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Hồ sơ vụ án thể hiện, tại biên bản lấy lời khai ngày 07/9/2023 của Tòa

án nhân dân tỉnh Trà Vinh, bà Ngụy Thị L1 đã xác định bà đã biết được việc ông Trần Văn N1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 113 vào năm 2014; đến năm 2020 khi khởi kiện vụ án dân sự thì bà L1 biết được thửa đất số 114 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N1, thửa đất số 112 được cấp cho bà Nguyễn Thị Kiều .

Ngày 28/3/2023, bà L1 khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy 03 Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 112, 113, 114 đã được UBND huyện C cấp cho bà K, ông N1 nêu trên.

Tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy

định về thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Đối chiếu qui định pháp luật với phân tích trên, vào thời điểm bà L1

khởi kiện tại Tòa án thì thời hiệu khởi kiện đã hết.

Hơn nữa, nội dung vụ án về việc tranh chấp thửa đất 112, diện tích

589m2; thửa đất 113, diện tích 365,1m2; thửa đất số 114, diện tích 395,6m2 đã được giải quyết tại Quyết định số 1443/QĐ.UBT ngày 24/10/1996 của Chủ tịch UBND tỉnh T và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 623/2020/QĐST-DS ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè đã có hiệu lực pháp luật. Theo đó, thửa đất 112 thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà K; thửa đất 113 và thửa đất số 114 thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông N1 là phù hợp quy định pháp luật.

Từ phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm ra

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bà Ngụy Thị L1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên Hội đồng phúc thẩm bác kháng cáo và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp là có cơ sở chấp nhận.

Án phí hành chính phúc thẩm: bà Ngụy Thị L1 sinh năm 1955 là

người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Ngụy Thị Lệ

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

03/2023/QĐST-HC ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: bà Ngụy Thị L1 được miễn.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ