vanban.org

Quyết định 231 — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015; ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NGUYỄN TRỌNG N- NGUYỄN MINH H"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 231/2019/QĐST-DS Thủ Dầu Một, ngày 21 tháng 5 năm 2019

Số: 231/2019/QĐST-DS Thủ Dầu Một, ngày 21 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Nga. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Nga – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 84/2019/TLST-VDS ngày 06 tháng 03 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 84/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây: - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 34, Khu phố 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 34, Khu phố 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt 2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ 34, Khu phố 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. 3. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 79, Khu phố 9, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ: Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ghi ngày 15/01/2019, ông Nguyễn Trọng N trình bày:

Ông Nguyễn Trọng N là em ruột của ông Nguyễn Minh H. Ông Nguyễn Minh H từ nhỏ bị thiểu năng trí tuệ, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Nay ông Nguyễn Trọng N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Minh H mất năng lực hành vi dân sự để ông N thực hiện việc phân chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại. Tại bản tự khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Thị Thu H trình bày: Thống nhất với yêu cầu của ông Nguyễn Trọng N, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Minh H mất năng lực hành vi dân sự. Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên họp: + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã thực hiện việc thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369, 377 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. + Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 186/KL-VPYTW ngày 11/4/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, kết luận ông Nguyễn Minh H bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72-ICD.10), không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015, thì yêu cầu của ông Nguyễn Trọng N là có căn cứ, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trọng N về việc tuyên bố ông Nguyễn Minh H mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định: [1] Về tố tụng: [1.1] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Trọng N yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Minh H mất năng lực hành vi dân sự, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Minh H có địa chỉ cư trú tại khu phố 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [1.2] Về việc tham gia phiên họp của những người tham gia tố tụng: Tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Trọng N, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt ông N, bà T và bà H theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Trọng N cung cấp thể hiện ông Nguyễn Minh H bị bệnh chậm phát triển. Do đó, ông Nguyễn Trọng N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Minh H mất năng lực hành vi dân sự. Quá trình giải quyết, ông Nguyễn Trọng N có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Minh H. Trên cơ sở đơn yêu cầu của ông Nguyễn Trọng N, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 84/2019/QĐ-TCGĐ ngày 18/3/2019 trưng cầu Viện pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa thực hiện việc giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Minh H. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 186/KL- VPYTW ngày 11/4/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, kết luận ông Nguyễn Minh H bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72- ICD.10), không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Vì vậy, việc ông Nguyễn Trọng N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Minh H mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án chấp nhận. [3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết việc dân sự là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Tòa án. [4] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng N phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trọng N. Tuyên bố ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 34, Khu phố 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự. 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0033513 ngày 27/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ