vanban.org

Quyết định 231/2023/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo bà Nguyễn Thị Chung T đối với Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa một phần Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án. Cụ thể: 1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 175/2022/TLST-DS ngày 07/4/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Nguyễn Thị Chung T - Phạm Hoàng K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo bà Nguyễn Thị Chung T đối với Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 231/2023/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Châu Thị Điệp

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Bá Thịnh

2. Bà Lê Thị Ngọc Hương

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 và Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định sơ thẩm số 67/2022/QĐ-SCBSBA ngày 12/8/2022 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định Đình chỉ giải quyết Vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Chung T, sinh năm 1976

Nơi cư trú: A V, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng K, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1974

Nơi cư trú: B Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Chung T ngày 17/8/2022, kháng cáo yêu cầu huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 với lý do giữa bà và ông K, bà L có ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng 02 (hai) thửa đất khác nhau nên bà đã nhầm lẫn trong việc rút đơn khởi kiện. Việc Tòa án nhân dân Quận 12 lập biên bản ghi nhận việc bà đã nhận số tiền 2.500.000.000 đồng là nhầm lẫn, chưa đúng nội dung mà các bên thỏa thuận.

XÉT THẤY:

Việc kháng cáo của bà Nguyễn Thị Chung T trong thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Chung T:

Ngày 10/8/2022, bà Nguyễn Thị Chung T đã nộp đơn rút đơn khởi kiện vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” mà Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý số 175/2022/TLST-DS ngày 07/4/2022.

Việc rút đơn khởi kiện của bà T là hoàn toàn tự nguyện và đã được Tòa án nhân dân Quận 12 lập biên bản ghi nhận ngày 10/8/2022. Toà án đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi Toà án đình chỉ giải quyết vụ án do đương sự rút yêu cầu khởi kiện là Toà án chấm dứt việc giải quyết vụ án nên cũng không xem xét có hay không việc thanh lý hợp đồng đặt cọc, thanh lý hợp đồng nào. Toà án cấp sơ thẩm không cho đương sự được quyền khởi kiện lại là không đúng pháp luật. Tại Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định sơ thẩm số 67/2022/QĐ-SCBSBA ngày 12/8/2022, Toà án nhân dân Quận 12 đã sửa chữa về phần hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án nhưng cách tuyên là không rõ ràng, khó hiểu dẫn đến không đảm bảo được quyền lợi của đương sự. Hội đồng phúc thẩm xét thấy cần sửa một phần quyết định sơ thẩm.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Chung T, sửa một phần Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 1 Điều 218; Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo bà Nguyễn Thị Chung T đối với Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Sửa một phần Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án số 338/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án. Cụ thể:

2.1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 175/2022/TLST-DS ngày 07/4/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Chung T, sinh năm 1976

Nơi cư trú: A V, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Phạm Hoàng K, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1974

Nơi cư trú: B Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

Đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

3.1. Về án phí sơ thẩm: Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Chung T số tiền 40.240.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0023117 ngày 07/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2. Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Chung T 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0023860 ngày 30/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định.

Cỡ chữ