vanban.org

Quyết định 23/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Phạm Đăng H.

Tuyên bố: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh là đã chết. Ngày chết của bà L là ngày 31/7/2023. Kể từ ngày quyết định của Toà án tuyên bố bà L là đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân và gia đình, quan hệ về nhân thân khác được giải quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Phạm Đăng H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Phạm Đăng H.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2026/QĐST - VDS
Quyết định
Bắc Ninh, ngày 24 tháng 4 năm 2026

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc “Tuyên bố một người đã chết”

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH

Với thành phần giải quyết Việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đỗ Cường Dũng.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Ngô Thị Diệm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên họp: Bà Đỗ Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24/4/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết Việc dân sự thụ lý số 08/2025/TLST-VDS ngày 04/12/2025 về việc “Tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 01/2026/QĐST - VDS ngày 09/4/2026 giữa:

- Người yêu cầu: Ông Phạm Đăng H, sinh năm 1959. Trú tại: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu xét việc tuyên bố một người đã chết; bản tự khai, biên bản lấy lời khai, người yêu cầu ông Phạm Đăng H trình bày: Ông là con trai lớn của cụ Phạm Đăng B, sinh năm 1929 (mất năm 2007) và cụ Nguyễn Thị B1, sinh năm 1933 (mất năm 2023). Bố mẹ ông sinh ra được 08 người con là Phạm Thị H1 sinh năm 1956, Phạm Thị P sinh năm 1957, Phạm Đăng H sinh năm 1959, Phạm Đăng L1 sinh năm 1962, Phạm Thị L2 sinh năm 1965, Phạm Thị L sinh năm 1967, Phạm Đăng T sinh năm 1971, Phạm Thị L3 sinh năm 1973. Bố mẹ ông chung sống với nhau tại thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh). Em gái ông là bà Phạm Thị L kết hôn với anh Vũ Thọ S vào năm 1987 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn thì 02 vợ chồng chung số hòa thuận và có 01 người con chung là cháu Vũ Thị Tuyết S1 ngày 15/12/1989. Vào tháng 12/1991 sau một lần vợ chồng xảy ra mâu thuẫn em ông đã tự ý bỏ nhà ra đi không để lại địa chỉ. Gia đình đã trình báo Công an, đi tìm khắp nơi, nhiều năm, đăng báo đài từ những năm trước nhưng tới nay vẫn không có tin tức gì. Vào ngày 14/07/2020, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh) đã quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người đã mất tích số 02/2020/QĐST-VDS ngày 29/6/2020 đối với em ông là Phạm Thị L. Từ đó đến nay gia đình tiếp tục tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của em ông. Do bố ông Phạm Đăng B đã mất vào 20/2/2007 và mẹ ông là bà Nguyễn Thị B1 đã mất vào 27/3/2023 nên ông làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố em ông là Phạm Thị L đã chết vì đã trên 05 năm kể từ thời điểm Tòa án tuyên bố em ông mất tích. Ông xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đăng báo, đài thông báo tìm kiếm em ông Phạm Thị L. Do ông bận rất nhiều công việc nên đề nghị Tòa án cho ông được vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên họp do Tòa án tổ chức. Ngoài ra ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

* Theo biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1, ông Phạm Đăng L1, bà Phạm Thị L2, ông Phạm Đăng T, bà Phạm Thị P và bà Phạm Thị L3 trình bày: Bố mẹ các ông bà là cụ Phạm Đăng B, sinh năm 1929 (mất năm 2007) và cụ Nguyễn Thị B1, sinh năm 1933 (mất năm 2023). Bố mẹ ông bà sinh ra được 08 người con là Phạm Thị H1, Phạm Thị P, Phạm Đăng H, Phạm Đăng L1, Phạm Thị L2, Phạm Thị L, Phạm Đăng T, Phạm Thị L3. Vào tháng 12 năm 1991, bà L bỏ đi đâu gia đình không biết và không có tin tức gì từ đó cho đến nay. Gia đình đã trình báo Công an, đi tìm khắp nơi, nhiều năm, đăng cả báo đài từ những năm trước nhưng đến nay không có tin tức gì. Nay ông Phạm Đăng H làm đơn yêu cầu về việc tuyên bố bà Phạm Thị L là đã chết, các ông bà nhất trí và xin vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên họp do Toà án tổ chức. Ngoài ra các ông bà không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Qua xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L và xác minh của Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh cung cấp: Qua rà soát và kiểm tra phần mềm dữ liệu quốc gia về dân cư, sổ đăng ký thường trú xã Liên Bão từ năm 1991 cho đến nay thì không có thông tin của công dân bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 2020 cho đến nay bà Phạm Thị L không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu làm gì và không có tin tức gì về về việc bà L trở về địa phương sinh sống.

Tòa án đã tiến hành nhắn tìm bà L trên Đ (V); B2 và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, của UBND tỉnh B và niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại địa phương nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về bà L. Nay đã hết thời hạn luật định Toà án tiến hành mở phiên họp.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Về ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149, 391, 392; 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 68; điểm a khoản 1 Điều 71, Điều 72; Điều 148 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Đăng H về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh là đã chết. Xác định ngày chết của bà Phạm Thị L là ngày 31/7/2023 (ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật 30/7/2023).

Kể từ ngày quyết định của Toà án tuyên bố bà L là đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân và gia đình, quan hệ về nhân thân khác được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà L được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của bà L được giải quyết theo quy định của pháp luật về Thừa kế.

Về lệ phí: Ông Phạm Đăng H được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự. Về chi phí đăng báo, đài: Ông Phạm Đăng H tự nguyện chịu toàn bộ nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tại phiên họp. Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ông Phạm Đăng H là anh trai của bà Phạm Thị L; bà L có nơi cư trú cuối cùng là thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Bà L đã bỏ đi khỏi địa phương từ khoảng tháng 12 năm 1991 cho đến nay, và đã quá 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống nên ông H có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự, đề nghị tuyên bố bà Phạm Thị L là đã chết, Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền.

Về nội dung vụ việc: Cụ Phạm Đăng B, sinh năm 1929 (mất năm 2007) và cụ Nguyễn Thị B1, sinh năm 1933 (mất năm 2023) kết hôn với nhau và sinh ra được 08 người con là Phạm Thị H1 sinh năm 1956, Phạm Thị P sinh năm 1957, Phạm Đăng H sinh năm 1959, Phạm Đăng L1 sinh năm 1962, Phạm Thị L2 sinh năm 1965, Phạm Thị L sinh năm 1967, Phạm Đăng T sinh năm 1971, Phạm Thị L3 sinh năm 1973. Đến khoảng tháng 12 năm 1991 thì bà L bỏ nhà đi đâu gia đình không ai biết, không có tin tức gì từ đó cho đến nay. Gia đình đã trình báo Công an, đi tìm khắp nơi, nhiều năm, đăng cả báo đài từ những năm trước nhưng đến nay không có tin tức gì. Ngày 14/07/2020, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh) đã ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người đã mất tích số 02/2020/QĐST-VDS ngày 29/6/2020 đối với bà Phạm Thị L. Từ đó đến nay gia đình tiếp tục tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của bà L. Toà án đã tiến hành xác minh và làm việc với UBND xã L; Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh được biết bà L bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1991 cho đến nay, không có thông tin xác thực nào là còn sống, khi đi bà L cũng không khai báo gì với chính quyền địa phương. Ông H yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm bà L trên phương tiện thông tin đại chúng, Toà án đã tiến hành đăng báo đài cụ thể: Ngày 15 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã ra Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Phạm Thị L. Thông báo đã được phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam trong ba buổi liên tiếp phát vào hồi 13h25 ngày 09/12/2025 và 15h55 ngày 20,21/12/2025; đăng trên B2 trong ba số liên tiếp 101,102,103 ra các ngày 17/12, 19/12 và ngày 24/12/2025; đăng trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh; đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã tiến hành làm việc, niêm yết tại Toà án, gia đình, tại UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh nơi bà L cư trú cuối cùng, xác định bà L không có mặt tại địa phương và không có bất cứ tin tức xác thực nào là còn sống.

Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày thông báo nhắn tin tìm kiếm bà L, Tòa án cũng không nhận được thông tin gì về bà L. Như vậy, đủ cơ sở khẳng định bà L đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1991 cho đến nay và đã quá 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật 30/7/2023 mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà L còn sống hay đã chết là phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự và Điều 391 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xác định ngày chết của bà Phạm Thị L: Bà Phạm Thị L bỏ đi khỏi địa phương tính từ năm 1991 nhưng không xác định được ngày, tháng cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 68, điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì thời điểm kết thúc thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật là ngày 30/7/2023. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Đăng H về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh là đã chết, xác định ngày chết của bà L là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật ngày 31/7/2023.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp và có căn cứ nên cần được chấp nhận.

. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố bà Phạm Thị L chết được xác định và thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.

. Về Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

- Về chi phí đăng báo, đài: Ông Phạm Đăng H tự nguyện chịu nên không đặt ra xem xét.

- Về Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Đăng H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng xét thấy ông H, sinh năm 1959 là người cao tuổi nên được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4, Điều 27; điểm a, khoản 2, Điều 35; điểm b, khoản 2, Điều 39; Điều 149, 371, 372; 391, 392; 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68; Điều 71, Điều 72; Điều 148 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Phạm Đăng H.

Tuyên bố: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh là đã chết. Ngày chết của bà L là ngày 31/7/2023.

2. Kể từ ngày quyết định của Toà án tuyên bố bà L là đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân và gia đình, quan hệ về nhân thân khác được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà L được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của bà L được giải quyết theo quy định của pháp luật về Thừa kế.

3. Về chi phí đăng báo, đài: Ông Phạm Đăng H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí.

4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Đăng H được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. 5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Cỡ chữ