- Tranh chấp gì? "cai nghiên bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ Tỉnh Bến Tre | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2023/QĐ-TA | P, ngày 29 tháng 12 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Với thành phần tiến hành phiên họp:
- Thẩm phán: Bà Hồ Thị Triết
- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Lộc
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 23 ngày 19/12/2023 theo Quyết định mở phiên họp số: 23/QĐ-TA ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Phạm Văn Tư, Giới tính Nam
Sinh năm 1976 tại huyện P, tỉnh Bến Tre.
Tên gọi khác: Không.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 02/12
Nguyên quán: xã PK, huyện P, tỉnh Bến Tre.
Hộ khẩu thường trú: số 27/4, ấp Phú Lợi, xã PK, huyện Ptỉnh Bến Tre.
Tiền án: không.
Tiền sự: có 01 tiền sự.
Con ông Phạm Văn D và bà Phạm Thị C.
(Ông Phạm Văn Tcó đơn xin vắng mặt)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn Phong – Trưởng phòng Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện P.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú: Ông Nguyễn Hoàng Tài - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 18/12/2023 Phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện P có văn bản số 31/ĐN-CNBB đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn Tdo có hành vi sử dụng chất ma túy, như sau:
Ông Phạm Văn T đang thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 97/QĐ-UBND ngày 14/8/2023 của Ủy ban nhân dân xã PK theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều qua Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý. Nhưng trong thời gian quản lý ông Phạm Văn T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể vào ngày 01/12/2023 ông Phạm Văn T bị Công an xã PK xét nghiệm dương tính với chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) dạng Methamphetamine. Căn cứ điểm khoản 1, điều 27 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021, Công an xã PK đề nghị Trạm y tế xã P Kh xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông Phạm Văn T. Đến ngày 05/12/2023, Trạm y tế xã P Kđã trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông Phạm Văn T là nghiện chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) dạng Methamphetamine.
Ngày 05/12/2023 Ủy ban nhân dân xã P K ra Quyết định số 126/QĐ-UBND dừng quản lý người sử dụng trái phép ma tuý đối với ông Phạm Văn T do có hành vi nghiện ma tuý và tống đạt cho ông Tđược biết.
Ngày 12/12/2023 Uỷ ban nhân dân xã P Kh ra Thông báo số 525/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T.
Ngày 13/12/2023 Uỷ ban nhân dân xã P K ra Quyết định số 130/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tổ chức được giao quản lý là Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bến Tre (địa chỉ: ấp T A, xã T X, huyện B T, tỉnh Bến Tre). Thời gian quản lý từ ngày 13/12/2023 đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Toà án.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T P có ý kiến: Do ông Phạm Văn T nghiện ma túy từ năm 2018 đã bị Công an xã P K ra Quyết định xử phat vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt) nhưng vào ngày 01/12/2023 trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý (14/8/2023 đến 14/8/2024) ông Phạm Văn T vẫn vi phạm nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn Tlà 12 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh P phát biểu quan điểm: Hồ sơ áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T đã được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện T P, tỉnh Bến Tre về việc xem xét xử lý vi phạm hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với ông Phạm Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy với thời gian là 12 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P. Tòa án nhân dân huyện Pnhận định:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự lập hồ sơ.
Xét thấy: Ông Phạm Văn T nghiện ma túy đá từ năm 2018 đã bị Công an xã PK ra Quyết định xử phat vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt) nhưng vào ngày 01/12/2023 trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý (14/8/2023 đến 14/8/2024) ông T vẫn vi phạm nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Bến Tre đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre là phù hợp với Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Bản thân ông T là người đã thành niên, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chính người sử dụng mà còn làm cho họ bị mất đi nghị lực, ý chí vươn lên trong cuộc sống nhưng vẫn cố ý sử dụng ma túy. Lẽ đó, xét thấy việc áp dụng “Biện pháp đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc” là cần thiết tạo điều kiện để ông Tư sớm hòa nhập cộng đồng.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với ông T thấy rằng: Ông T không có tình tiết tăng nặng; Trong quá trình lập hồ sơ, ông Tư đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, ông T đã nghiện ma túy từ năm 2018 cho đến nay không biết cải sửa nên cần phải có thời gian cai nghiện dài mới giúp ông T chữa bệnh, lao động, học tập để có ý chí vươn lên trong cuộc sống và từ bỏ việc sử dụng ma túy.
Như vậy đã đủ cơ sở xác định: ông Phạm Văn T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 4, 9, 10, 95, 96, 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;
Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: ông Phạm Văn Tư sinh năm 1976, đăng ký thường trú: số 27/4, ấp PL, xã P Kh, huyện P, tỉnh Bến Tre; Con ông Phạm Văn Diệp và bà Phạm Thị Cúc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (địa chỉ: ấp T A, xã T X, huyện BT, tỉnh Bến Tre).
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày 13/12/2023.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
- Ông Phạm Văn T được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này.
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P được quyền kiến nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện P được quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện h P, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Trưởng Phòng LĐTB&XH huyện P; - Viện kiểm sát nhân dân huyện P; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre - Trưởng Công an huyện P; - UBND xã P K; - Công an xã PK; - Ông Phạm Văn T; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng đấu ) Hồ Thị Triết |