vanban.org

Quyết định 23/2021/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 347/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để tiếp tục giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí: Ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông L và ông A tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSD đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2021/QĐ-PTĐồng Nai, ngày 17 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp:Bà Phạm Thị Xuân Đào

Các Thẩm phán:

Bà Đỗ Thị Nhung

Ông Nguyễn Trung Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đình Thắng – Kiểm sát viên.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 347/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã căn cứ vào các Điều 48, 180, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lài Đức L, sinh năm 1955.

Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1952.

Cùng địa chỉ: 62/51 đường H, phường X, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Gi P, sinh năm 1962 (Văn bản ủy quyền ngày 10/4/2019).

Địa chỉ: 230/12 đường H, phường T, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lư Văn Kiện A, sinh năm 1973.

Địa chỉ: 91 đường N, phường Y, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

Bà Vũ Thị Tuyết V, sinh năm 1960.

Địa chỉ : Ấp L, xã T (nay là khu phố L, phường T), TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Ngô Thanh P, sinh năm 1956.

2/ Bà Bùi Thị P, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T (nay là khu phố L, phường T), TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

3/ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970.

Địa chỉ: 91 đường N, phường Y, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

4/ Văn phòng công chứng D.

Địa chỉ: 1236 Quốc lộ 1A, xã B, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

5/ Chi cục Thi hành án dân sự Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: 200 Bình Lợi, phường 13, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

6/ Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ: 63/2/1 Võ Thị Sáu, phường Quyết Thắng, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

- Ngày 06/11/2020, nguyên đơn ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H kháng cáo, yêu cầu hủy đề nghị hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 347/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiếp tục giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Nguyên đơn ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H gửi đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn nhận thấy:

Ngày 18/4/2019, ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H có đơn khởi kiện đối với ông Lư Văn Kiện A, bà Vũ Thị Tuyết V yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lư Văn Kiện A và bà Vũ Thị Tuyết V ký ngày 08/11/2016 là vô hiệu; công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã T (nay là phường T) chứng thực số 997, quyển số 02/2007, ngày 27/8/2007 là hợp pháp; công nhận quyền sử dụng thửa đất số 872, tờ bản đồ số 03, diện tích 1616m2, xã T (nay là thửa 04, tờ bản đồ số 10, diện tích 1492m2, phường T, Biên Hòa, Đồng Nai) là tài sản của ông Kiện A để Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Bình Thạnh thi hành án cho ông L, bà H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa xác minh cư trú của bị đơn ông Lư Văn Kiện A tại Công an phường Y, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Ngày 04/3/2020, Công an phường Y cung cấp thông tin: Ông Lư Văn Kiện A có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ 91 đường N, phường Y, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên hiện nay ông Kiện A không còn sinh sống tại địa phương. Ông Kiện A đã chuyển về địa chỉ B17, đường X, KP. 2, phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh từ năm 2010.

Ngày 02/6/2020, Công an phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh cung cấp thông tin: Tại phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh không có địa chỉ B17, đường X, KP. 2, phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 20/7/2020, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Gi P trình bày ông không biết địa chỉ nơi ở hiện nay của ông Kiện A.

Ngày 20/8/2020, Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa ban hành Thông báo số 249/TB-TA, yêu cầu nguyên đơn tiến hành làm thủ tục Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cứ trú đối với ông Kiện A và nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án trong thời hạn 30 ngày.

Ngày 25/8/2020, đại diện ủy quyền của nguyên đơn (ông P) có Đơn yêu cầu Tòa án ra Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Kiện A.

Ngày 16/9/2020, Tòa án lập biên bản làm việc với ông P là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, yêu cầu nguyên đơn làm thủ tục Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú hoặc làm thủ tục Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự đối với ông Kiện A trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày lập biên bản làm việc và nộp lại tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Sau khi hết thời hạn 15 ngày, nguyên đơn không bổ sung chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án nên cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án.

Ngày 06/11/2020, đại diện ủy quyền của nguyên đơn nộp Phiếu thu ngày 22/10/2020 của Công ty CP thông tin truyền thông Công Lý (đơn vị phát hành báo Công Lý) sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết vụ án.

Tại Bản tự khai ngày 27/01/2021 và biên bản làm việc ngày 04/3/2021, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; không còn tài liệu, chứng cứ gì khác cung cấp cho Tòa án; việc nộp Phiếu thu trễ cho Tòa án do muốn chờ nộp cùng báo đăng tin, không phải do sự kiện bất ngờ hoặc điều kiện bất khả kháng, ông P đã gọi điện thoại thông báo với Thẩm phán.

Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các Điều 48, 180, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định. Tuy nhiên sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã cung cấp Phiếu thu ngày 22/10/2020 của Công ty CP thông tin truyền thông Công Lý (đơn vị phát hành báo Công Lý) thể hiện nguyên đơn đã thực hiện thủ tục Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Lư Văn Kiện A theo yêu cầu của Tòa án. Đại diện nguyên đơn xác định việc nộp Phiếu thu trễ không phải do sự kiện bất khả kháng nên đây là tình tiết mới phát sinh sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H, hủy quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên các đương sự ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên họp:

Về nội dung: Theo đơn khởi kiện ngày 18/4/2019, ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lư Văn Kiện A và bà Vũ Thị Tuyết V ký ngày 08/11/2016 là vô hiệu.

Ngày 13/8/2019, Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và gửi thông báo thụ lý, giấy mời qua đường Bưu điện cho ông Lư Văn Kiện A theo địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng không thực hiện được nên đã tiến hành niêm yết nhưng ông A không đến làm việc. Qua biên bản xác minh ngày 04/3/2020, thể hiện ông Lư Văn Kiện A, sinh năm 1973 có hộ khẩu thường trú tại số 91 đường N, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh, hiện nay không sống ở địa chỉ trên. Từ năm 2010, ông Lư Văn Kiện A đã chuyển về địa chỉ B17 đường X, khu phố 2, phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh nhưng tại biên bản xác minh ngày 16/9/2020 thì không có địa chỉ B17 đường X, khu phố 2, phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh. Do đó nguyên đơn có đơn yêu cầu về việc thông báo tìm người vắng mặt nơi cư trú. Tại biên bản làm việc ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa thể hiện “Yêu cầu ông L, bà H (đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Gi P) liên hệ Tòa án nơi cư trú cuối cùng của ông Kiện A để làm thủ tục yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và nộp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa theo quy định hoặc làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, thời gian nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa là 15 ngày kể từ ngày 16/9/2020”, ông P đồng ý và ký tên. Sau đó quá thời hạn 15 ngày ông P không thực hiện.

Tại giai đoạn phúc thẩm ông P có nộp phiếu thu của Công ty CP thông tin truyền thông Công lý đề ngày 22/10/2020 lý do tìm kiếm ông Lư Văn Kiện A. Tuy nhiên ông P đăng báo tìm kiếm đã chậm 21 ngày so với thời gian Tòa án Biên Hòa ấn định, lý do chậm nộp không thuộc trường hợp trở ngại khách quan. Đồng thời việc ông P khai nại việc chậm nộp có trao đổi với thẩm phán giải quyết vụ án nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên kháng cáo của ông P không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 347/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Quan điểm này không phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm.

Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 347/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để tiếp tục giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Ông Lài Đức L, bà Đặng Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ