vanban.org

Quyết định 23/2018/QĐ-TA

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 22/08/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Vi Văn N. Sinh ngày 01 tháng 11 năm 1983. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đưa Vi Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2018/QĐ-TATP. Lạng Sơn, ngày 22 tháng 8 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Sinh

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Đình Sắc

Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng

Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp

xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên

họp số 15/QĐ-TA ngày 16 tháng 8 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Vi Văn N. Giới tính: Nam;

Sinh ngày 01 tháng 11 năm 1983;

Số CMND: 082131154. Ngày cấp:

Nơi cấp: Công an tỉnh Lạng Sơn.

Dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 5/12.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở: Lang thang, không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 08/5/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh

Lạng Sơn đã ra Quyết định số 171/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,

phường đối với Vi Văn N theo Nghị định 111/2013/NĐ- CP ngày 30/9/21013 của

Chính phủ với thời hạn 03 tháng cai nghiện tự nguyện tại gia đình. Sau khi chấp hành

xong, Vi Văn N vẫn còn nghiện và bỏ nhà đi sống lang thang, không có nơi cư trú

ổn định.

Con ông Vi Văn N1 và bà Lê Thị C.

Hiện nay Vi Văn N đang được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh

Lạng Sơn quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 136/QĐ-

UBND ngày 22/6/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V, thành phố L,

tỉnh Lạng Sơn.

Vi Văn N vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành

phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Mạnh Hải - Phó trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (theo Quyết định ủy quyền số 370/TB-LĐTB&XH ngày 14/8/2018 của Trưởng phòng Lao động-Thương binh & Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn,tỉnh Lạng Sơn:

Bà Nguyễn Lan Phương - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hồi 23 giờ 55 phút ngày 25/7/2018 tổ công tác Công an phường V, thành

phố L, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ phát hiện và lập biên bản về việc Vi Văn N có biểu hiện vừa sử dụng chất ma túy. Đến 07 giờ ngày 26/7/2018 Công an phường V phối hợp với Trạm Y tế phường V, thành phố L tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Vi Văn N. Kết quả xét nghiệm Vi Văn N dương tính với chất ma túy Heroine, Công an phường V tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Vi Văn N.

Tại bản tường trình và biên bản lấy lời khai, Vi Văn N thừa nhận bản thân

hiện nay không có nơi cư trú cố định, đã nghiện ma túy từ năm 2014 và bị lệ thuộc vào chất ma túy; loại ma túy thường sử dụng là Heroin, cách sử dụng là tiêm chích. Lần Vi Văn N sử dụng gần nhất vào ngày 25/7/2018 thì bị Công an phường V, thành phố L bắt quả tang. Lời trình bày của Vi Văn N phù hợp với Biên bản vi phạm hành chính và phiếu trả lời kết quả ngày 26/7/2018 về việc xác định tình trạng nghiện chất ma túy của Trưởng trạm Y tế phường V, thành phố L xác định Vi Văn N nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine.

Ngày 26/7/2018 Chủ tịch ủy ban nhân dân phường V, thành phố L đã ra

Quyết định số 171/QĐ-UBND giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn quản lý Vi Văn N trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 27/7/2018 Ủy ban nhân dân phường V, thành phố L đã ra Thông báo số 53/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.

Ngày 03/8/2018, Ủy ban nhân dân phường V, thành phố L có Công văn số

239/UBND đề nghị Phòng Tư pháp thành phố L kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Ngày 06/8/2018, Phòng Tư pháp thành phố L có Thông báo số 116/TB-TP về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Ngày 08/8/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L có Công văn số 361/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố L xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố

L, tỉnh Lạng Sơn, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố L xem xét, Quyết định áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi

Văn N thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L trình bày quan điểm: Hồ

sơ, thủ tục về việc đề nghị; trình tự, thủ tục tại phiên họp; người tiến hành phiên

họp và người tham gia phiên họp thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp

luật. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L nhất trí với ý kiến của Phòng Lao

động Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lạng Sơn về việc đề nghị Tòa án

nhân dân thành phố L quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào

cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N được lập đúng thẩm quyền,

đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo đầy đủ các tài liệu theo quy định tại điểm b khoản

1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và mục 2 khoản 2 Điều 1 Nghị định số

136/2016/CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Căn cứ biên bản vi phạm hành chính về phòng chống tệ nạn xã hội ngày

26/7/2018 của Công an phường V, thành phố L, bản tường trình và biên bản ghi

lời khai của Vi Văn N; biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu trả lời kết quả

ngày 26/7/2018 của Trưởng trạm Y tế phường V, thành phố L xác định Vi Văn

N nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện Vi Văn N là người trên 18 tuổi, có

đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là

có lỗi nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vi Văn N có hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã

P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nhưng đi lang thang, không có chỗ ở cố định, không

chịu lao động và bị mắc nghiện ma túy từ năm 2014, nay vẫn nghiện ma túy.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Vi Văn N có hộ khẩu

thường trú tại: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nhưng đi lang thang, hiện

nay không có chỗ ở cố định. Theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 103 Luật

xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền lập hồ sơ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân

phường V, thành phố L nơi Vi Văn N có hành vi vi phạm pháp luật và Công an

phường V có trách nhiệm giúp thu thập tài liệu, lập hồ sơ là đúng quy định của

pháp luật.

Về thời hiệu áp dụng: Ngày 26/7/2018 Vi Văn N có hành vi vi phạm và bị

lập biên bản vi phạm hành chính. Tính từ ngày Vi Văn N thực hiện hành vi vi

phạm đến nay đảm bảo thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại

điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Bản thân Vi Văn N không có tiền án, tiền sự, không có nghề

nghiệp, sống lang thang và mắc nghiện ma túy từ năm 2014, chưa đi cai nghiện

lần nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị Vi Văn

N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những nhận định trên, Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn

chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lạng Sơn về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều

104; khoản 2 Điều 105 ; Điều 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; mục 2 khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013. Căn cứ các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Vi Văn N.

Sinh ngày 01 tháng 11 năm 1983.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở: Lang thang, không có nơi cư trú ổn định.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa

chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 24 (hai mươi tư)

tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại

quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền

kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn

đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ