- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm hữu N.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2018/QĐ-TA | Krông Ana, ngày 19 tháng 10 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐĂK LĂK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Tuyên
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Ngọc
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 23/2018/QĐ-TA ngày 15/9/2018, đối với:
Họ và tên: Phạm hữu N
Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/7/1989;
Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, trình độ văn hóa: 10/12.
Nguyên quán: Quảng Nam.
Nơi cư trú: buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.
Tiền án: không;
Tiền sự: ngày 15/3/2018 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Chủ tịch UBND xã D áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã tại Quyết định số 43B/QĐ-UBND ngày 16/3/2018, thời hạn 03 tháng, đến 16/6/2018 đã được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã D.
Con ông Phạm C (đã chết) và bà Phạm Thị T
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Nguyễn An Tòng - Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Ana.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Hữu Thanh – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana.
NHẬN THẤY
Phạm hữu N có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.
Ngày 15/3/2018 Phạm hữu N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 16/3/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, huyện K ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã D tại Quyết đinh số 43B/QĐ-UBND, thời hạn giáo dục là 03 tháng, đến ngày 16/6/2018 được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian giáo dục. Ngày 06/9/2018 Phạm hữu N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã D, huyện K phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính. Quá trình làm việc, Phạm hữu N khai nhận bắt đầu sử dụng chất ma túy từ tháng 01 năm 2010 đến nay. Loại ma túy sử dụng là Hêroin, cách thức sử dụng là chích vào cơ thể, liều lượng sử dụng là khoảng từ 100.000đ đến 200.000đ một lần. Công an xã D, huyện K đã phối hợp với Bệnh viện đa khoa huyện K, tỉnh Đăk Lăk xét nghiệm chất ma túy đối với Phạm hữu N. Kết quả Phạm hữu N dương tính với Morphine.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị ông Nguyễn An Tòng - trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Krông Ana trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thể hiện Phạm hữu N là người nghiện ma túy từ tháng 01 năm 2010 đến nay, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã D, huyện K do nghiện ma túy nhưng không tự cai nghiện được gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm hữu N với thời hạn 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana phát biểu ý kiến: Về thẩm quyền giải quyết vụ việc, tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, về thu thập chứng cứ, thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào các ý kiến trình bày tại phiên họp, xét thấy:
Phạm hữu N là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, buộc N phải biết ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm sử dụng, gây nhiều nguy hại cho nòi giống con người và xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, không những thế nó còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh thế kỷ lây nhiễm HIV/AIDS và dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Phạm hữu N bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 01 năm 2010 cho đến nay, đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã D do nghiện ma túy nhưng không tự cai nghiện được, ngày 05/9/2018 bị Công an xã D, huyện K phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm hữu N. Việc lập hồ sơ của các cơ quan có thẩm quyền đầy đủ, đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
“1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.
2………..”
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, nhân thân, mức độ nhận thức về pháp luật của người bị đề nghị và ý kiến của những người tham gia phiên họp. Xét thấy, mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng Phạm hữu N vẫn cố ý sử dụng, hành vi của Phạm hữu N có tính liên tục, kéo dài, để tạo điều kiện cho Phạm hữu N chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội nên căn cứ vào các Điều 6, 95, 96 Khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 3, 4, 8, 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Krông Ana, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm hữu N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm hữu N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đăk Lăk – Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Đăk Lăk (Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện P, tỉnh Đăk Lăk).
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Phạm hữu N có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Krông Ana; Công an huyện Krông Ana.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Phòng LĐTBXH huyện; - Công an huyện; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đăk Lăk; - Người bị đề nghị; - Lưu HS. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Đình Tuyên |