vanban.org

Quyết định 227/2020/QĐST-DS — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 09/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chuyển vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/TLST-DS ngày 03/6/2019 về việc: “Yêu cầu chia thừa kế” đến Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.

Đương sự có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đến Chánh án Toà án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội./. VKSND huyện Đ; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp thừa kế giữa chị Lê Thanh H, Lê Dung H với ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị G"
  • Tòa quyết gì? Chuyển vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/TLST-DS ngày 03/6/2019 về việc: “Yêu cầu chia thừa kế” đến Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 227/2020/QĐST-DSĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN VỤ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/TLST-DS ngày 03/6/2019 về việc: “Yêu cầu chia thừa kế” giữa:

- Nguyên đơn:

1. Chị Lê Thanh H, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn V, xã Nam H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

2. Chị Lê Dung H, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Số nhà 207, tầng 2, khu 4 tầng, tổ 6, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn:

1. Ông Lê Văn N, sinh năm 1940;

2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1954;

Đều trú tại: Thôn Quan A, xã Bắc H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị H, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số 26 phường Đức G, quận Long B, thành phố Hà Nội.

2. Chị Lê Thu H, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Nam H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

3. Anh Lê Mạnh T, sinh năm 1984;

4. Chị Lê Thị H1, sinh năm 1979;

Cùng địa chỉ: Xóm V, thôn V, xã Nam H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

5. Chị Lê Thị H2, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số nhà 90, đường Địa Đ, thôn V, xã Nam H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của chị Lê Thị H1, Lê Thị H2: Chị Lê Thanh H, chị Lê Dung H.

6. Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Đường Cao L, tổ 2 thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Xuân L - Chủ tịch UBND huyện Đ.

NHẬN THẤY:

Theo Đơn khởi kiện ngày 28/01/2019, nguyên đơn chị Lê Thanh H, chị Lê Dung H yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 197857, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCN646/QĐ-UBND ngày 28/02/2013 (Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 30 tại thôn Quan A, xã Bắc H, huyện Đ, thành phố Hà Nội) do UBND huyện Đ cấp lần đầu cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị G.

Theo Nguyên đơn chị Lê Thanh H, chị Lê Dung H trình bày: Thửa đất trên hiện tại do ông N, bà G đang ở. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị G năm 2013 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 197857, số vào sổ GCN646/QĐ-UBND ngày 28/3/2013). Lý do Nguyên đơn yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên vì: Về nguồn gốc thửa đất trên: Ông Lê Văn N và bà Phạm Thị H là vợ chồng, đều là công nhân Nông trường Đ. Năm 1990, bà H về hưu. Đến năm 1991, bà H làm đơn xin cấp đất giãn dân và được chính quyền địa phương cấp cho 01 suất đất có diện tích 226m2, bà H là người đứng ra đóng tiền để được cấp thửa đất trên. Khi được cấp đất, ông N vẫn đang công tác tại Công ty vận tải Đ, năm 1994 ông N mới về hưu. Sau khi được cấp đất, ông N, bà H đã xây dựng tường bao quanh đất, xây xong năm 1993 thì bà H chết. Đến khoảng cuối năm 1994, đầu năm 1995 ông N lấy bà Nguyễn Thị G. Năm 1996, ông N, bà G cùng chuyển về thửa đất trên để sinh sống. Sau đó, ông N, bà G đã làm thủ tục kê khai quyền sử dụng đất và đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đứng tên ông N, bà G vào năm 2013. N vậy, thửa đất này được cấp năm 1991 cho ông N, bà H chứ không phải cấp cho cá nhân ông N. Năm 1993 bà H chết, thời điểm mở thừa kế được tính. Sau khi thanh toán tài sản chung vợ chồng, 1/2 diện tích đất phải là di sản thừa kế của bà H để lại cho các đồng thừa kế là ông N và 07 người con. Năm 2013, ông N làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N, bà G là sai quy định pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của các đồng thừa kế của bà H.

Tòa án huyện Đ đã tiến hành thu thập chứng cứ tài liệu liên quan đến yêu cầu của Nguyên đơn. Những vấn đề bị đơn đưa ra cũng được xác minh cụ thể là về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc di sản, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và H giải theo quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản Khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chuyển vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/TLST-DS ngày 03/6/2019 về việc: “Yêu cầu chia thừa kế” đến Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.

2. Đương sự có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đến Chánh án Toà án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội./.

Cỡ chữ