- Tranh chấp gì? "Biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Mai K"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Mai K, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1977; nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện T, thành phố H.
- Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 226/QĐ-TA | Huyện T, ngày 06 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T,THÀNH PHỐH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Vân.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đinh Hữu Hảo.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 275/QĐ-TA ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Lê Mai K. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1977.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 10/12.
Nguyên quán: Xã L, huyện T, thành phố H.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã L, huyện T, thành phố H.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy số 53/QĐ-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố H.
Con ông: Lê Mai N (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Hương Thảo - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, thành phố H, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 4 năm 2019).
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Lê Mai K sử dụng ma túy từ năm 2003, loại ma túy ban đầu K sử dụng là Heroine, thời gian gần đây K sử dụng Methamphetamine (ma túy đá), hình thức sử dụng là hít. Sáng ngày 18 tháng 9 năm 2019, K một mình đi sang khu vực đường tàu nội thành mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với số tiền là 200.000 đồng, có được ma túy K cất giấu trong người và đi về nhà ở tại thôn M, xã L. Sáng ngày 19 tháng 9 năm 2019, K mang số ma túy đá đã mua ra sử dụng hết. Chiều ngày 19 tháng 9 năm 2019, Công an xã L triệu tập K lên trụ sở làm việc, K đã thừa nhận việc sử dụng ma túy vào sáng ngày 19 tháng 9 năm 2019. Công an xã L kết hợp với Trạm y tế xã tiến hành thử nước tiểu của K. Phiếu xét nghiệm nước tiểu xác định K dương tính với chất ma túy.
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, thành phố H phát biểu ý kiến: Kiểm tra hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu chứng minh điều kiện cần thiết, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Mai K tại Cơ sở cai nghiện ma túy G; địa chỉ: Xã G, huyện T, thành phố H với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
XÉT THẤY:
Lê Mai K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên họp nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, thành phố H đối với Lê Mai K đã đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Lê Mai K là người nghiện ma túy từ năm 2003, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 53/QĐ-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố H do nghiện chất ma túy trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 24 tháng 5 năm 2019 đến ngày 24 tháng 8 năm 2019. Lê Mai K đã chấp hành xong quyết định trên theo Giấy chứng nhận số 06/GCN-UBND ngày 24 tháng 8 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L. Tuy nhiên, ngày 19 tháng 9 năm 2019, Lê Mai K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Trạm y tế xã L, người được xét nghiệm là Lê Mai K có kết quả dương tính với chất ma túy (Methamphetamine). Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Mai K đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của pháp luật về phòng chống, kiểm soát chất ma túy, vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự an toàn xã hội; gây nguy hại cho sức khỏe, thể chất, tinh thần của người sử dụng ma túy; làm ảnh hưởng đến gia đình, người thân và cộng đồng, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, đặc biệt là tội phạm về ma túy. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Mai K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, thành phố H là cần thiết và phù hợp với quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Sau khi bị phát hiện, Lê Mai K đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Lê Mai K đã sử dụng ma túy từ năm 2003, có một tiền sự bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện chất ma túy mà vẫn còn nghiện.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần thiết phải áp dụng mức thời hạn cao nhất theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, thành phố H đối với Lê Mai K là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật về ma túy trong tình hình hiện nay.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Mai K, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1977; nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện T, thành phố H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Lê Mai K có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, thành phố H có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, thành phố H phối hợp với Công an huyện T, thành phố H đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T, thành phố H; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH huyện T; - Trưởng Công an huyện T; - Người bị đề nghị; - UBND xã L, huyện T, thành phố H; - Lưu: VT, hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Vân |