- Tranh chấp gì? "Trương Xuân T khởi kiện UBND tỉnh Đồng Nai"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Xuân T; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 80/2020/QĐST-HC ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 123 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 226/2021/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 4 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:
Bà Trần Thị Huyền Vân
Các Thẩm phán:
Ông Phan Đức Phương
Ông Vũ Ngọc Huynh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 80/2020/QĐST-HC ngày 02 tháng 12 năm 2020.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ Điều 116; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện trong vụ án hành chính giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Trương Xuân T, sinh năm 1964
Địa chỉ: Số 431, tổ 23, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Số 2, N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Cao Thị L, sinh năm 1966
- Anh Trương Xuân H, sinh năm 1990
- Anh Trương Quốc K, sinh năm 1997
Cùng địa chỉ: Số 431, tổ 23, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Tại đơn kháng cáo ngày 17 tháng 12 năm 2020, người khởi kiện ông Trương Xuân T kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án hành chính nêu trên.
XÉT THẤY:
Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Trương Xuân T nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của người khởi kiện:
Đối với Quyết định số 3634/QĐ.CT-UBT ngày 20/8/2004 của Chủ tich UBND tỉnh Đồng Nai (viết tắt quyết định 3634) và Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 05/11/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc phê duyệt phương án bồi thường khu du lịch sinh thái Sơn Tiên (viết tắt quyết định 3806):
Ngày 20/8/2004, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 3634/QĐ.CT-UBT phê duyệt phương án bồi thường cho các hộ dân, trong đó có hộ ông Trương Xuân T có đất nông nghiệp bị thu hồi là 1.606m2, bồi thường 35.705.000 đồng.
Vào các ngày 29/9/2004, 11/10/2004, 21/10/2004 UBND huyện Long Thành ban hành 03 thông báo bồi thường cùng số 122/TB.UBH gửi cho ông T nhưng ông T đều vắng mặt có xác nhận của UBND xã và Mặt trận tổ quốc xã An Hòa nhưng ông T không liên hệ UBND huyện để nhận thông báo nhận tiền bồi thường.
Hội đồng bồi thường huyện Long Thành ban hành thông báo số 131/TB-HĐBT ngày 13/10/2004 và số 111/TB-HĐBT ngày 06/7/2005 với nội dung đề nghị các cá nhân, tập thể đang quản lý sử dụng đất tại cánh đồng Bà Phượng thuộc ấp 1,2,3 xã An Hòa nằm trong dự án khu du lịch sinh thái Sơn Tiên đến liên hệ với UBND xã An Hòa, Hội đồng bồi thường huyện Long Thành để làm thủ tục liên quan về tài sản khu vực giải tỏa thực hiện dự án. Các thông báo trên được đăng trên Báo Sài Gòn giải phóng ngày 10/10/2004 (5 kỳ liên tục), truyền hình thành phố Hồ Chí Minh 05 kỳ liên tục từ ngày 07/7/2004 đến ngày 11/7/2004 và Báo Đồng Nai ngày 08/7/2005 (12 kỳ liên tục).
Nhưng ông Trương Xuân T không liên hệ với Hội đồng bồi thường huyện Long Thành nhận tiền bồi thường, số tiền bồi thường của ông T, UBND huyện Long Thành chuyển vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc nhà nước huyện Long Thành sau đó được chuyển vào tài khoản tạm giữ tại kho bạc Nhà nước thành phố Biên Hòa.
Ngày 15/11/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 5530/QĐ-CT-UBT thu hồi 3.736.213m2 đất tại xã An Hòa, huyện Long Thành (nay thuộc thành phố Biên Hòa) và giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Công ty cổ phần Sơn Tiên lập thủ tục thực hiện dự án, trong đó có diện tích đất nông nghiệp của ông T.
Ngày 05/11/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 3806/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường dự án khu du lịch sinh thái Sơn Tiên, tại xã An Hòa, huyện Long Thành (đợt 9) kèm theo danh sách có hộ ông Trương Xuân T. Đồng thời quyết định trên được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã vào ngày 23/11/2007.
Ngày 03/12/2008 đại diện Hội đồng bồi thường huyện Long Thành tiến hành lập biên bản làm việc về việc công bố trao bộ hồ sơ bồi thường và các văn bản liên quan dự án khu du lịch sinh thái Sơn Tiên tại xã An Hòa. Địa điểm làm việc tại nhà ông Trương Xuân T trong đó có Quyết định 3634, Quyết định số 5530 và Quyết định số 3665 cùng các văn bản khác liên quan. Tại biên bản làm việc thể hiện sau khi thông báo và công bố các quyết định ông Trương Xuân T không nhận vì cho rằng các văn bản trên không có giá trị và không đúng với thực tế.
Đối với Quyết định số 6378/QĐ-XPHC ngày 25/10/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Thành về việc Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (viết tắt là quyết định 6378) và Quyết định số 8738/QĐ-UBND ngày 19/12/2005 của UBND huyện Long Thành về việc Cưỡng chế thi hành quyết định Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (quyết định 8738):
Do ông Trương Xuân T không chấp nhận giao đất để thực hiện dự án nên ngày 25/10/2005, Ủy ban nhân dân huyện Long Thành ban hành Quyết định số 6378/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Trương Xuân T. Ông T không chấp hành quyết định nêu trên, ngày 19/12/2005, Ủy ban nhân dân huyện Long Thành ban hành Quyết định số 8738/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trương Xuân T. Ngày 06/01/2006, Đoàn cưỡng chế đã thực hiện tháo dỡ toàn bộ nhà cửa, tài sản, cây trồng và giao đất cho chủ đầu tư triển khai dự án.
Ngày 04/01/2006, ông T có đơn khiếu nại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6378, Quyết định cưỡng chế số 8738
Ngày 20/6/2006, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Thành ban hành Quyết định số 1959/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông T, và quyết định bác đơn khiếu nại của ông Trương Xuân T. Không đồng ý nên ngày 25/6/2006 ông Trương Xuân T tiếp tục có đơn khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 1959/QĐ-UBND ngày 20/6/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Thành.
Ngày 21/10/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 3467/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông T, theo đó bác đơn khiếu nại của ông Trương Xuân T.
Như vậy, ông Trương Xuân T đã biết Quyết định 3634; số 3806; số 6378 và Quyết định số 8738. Tuy nhiên, đến ngày 04 tháng 5 năm 2020, ông T mới nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định nói trên là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
. Đối với Quyết định số 3665/QĐ-UBND ngày 10 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án Khu du lịch sinh thái Sơn Tiên, tại xã An Hòa, huyện Long Thành (đợt 13). (viết tắt quyết định 3665)
Ngày 11 tháng 7 năm 2019, ông Trương Xuân T có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu: Hủy một phần Quyết định số 3665/QĐ-UBND. Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai phải thực hiện đúng trình tự về phê duyệt phương án bồi thường.
Ngày 16/9/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án hành chính số 69/2019/TLST-HC về việc: “Khiếu kiện yêu cầu hủy một phần quyết định hành chính về quản lý đất đai” theo đơn khởi kiện của ông Trương Xuân T.
Ngày 03/4/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 25/2020/QĐST-HC về việc Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với lý do: Quyết định số 3665/QĐ-UBND đã hết thời hiệu khởi kiện, và quyết định trên đã có hiệu lưc pháp luật do không có kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ điểm d khoản 1 điều 123 và điểm h Điều 143 Luật tố tụng hành chính, thì quyết định 3665/QĐ-UBND đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, ông Trương Xuân T không có quyền khởi kiện lại quyết định hành chính nói trên.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm của kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Xuân T; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 80/2020/QĐST-HC ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trương Xuân T phải chịu án phí theo quy định..
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Xuân T; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 80/2020/QĐST-HC ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Trương Xuân T phải nộp 300.000 đồng; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002496 ngày 24 tháng 12 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - Cục THADS tỉnh Đồng Nai (1); - Đương sự (2) - Lưu (6) 15b (QĐ.MTTT) | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Huyền Vân |