vanban.org

Quyết định 223/2026/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Bé S - Võ Văn L"
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

CỘNG

XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ N M K U VỰC 6 - VĨN LONG

Độc lập - ự do - ạnh phúc Số: 223/2026/QĐST-HNGĐ

nh n n

h n n

QU

Đ N

C NG N N U N N L

N

V Ự

U N CỦ C C Đ NG Ự

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 335/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2026, giữa:

- N u ên đơn: Bà Trần Thị Bé S, sinh năm: 1984; nơi ĐKTT: Ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ở hiện nay: 24B/2 quốc lộ A, xã B, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Ông Võ Văn L, sinh năm: 1986; địa chỉ: 3 ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 22 tháng 6 năm 2026.

X

:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 22 tháng 6 năm 2026 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QU

Đ N :

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Trần Thị Bé S và ông Võ Văn L.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

i

d n i a

h n hi h n: Ghi nhận việc bà Trần Thị Bé S và ông Võ Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

n hun

i

d n nu i n:

Bà Trần Thị Bé S được quyền trực tiếp nuôi người con chung giữa bà và ông Võ Văn L tên Võ Bích T, sinh ngày: 10/08/2008 (đang sống chung và có nguyện vọng được sống chung với bà Trần Thị Bé S). Ghi nhận việc bà Trần Thị Bé S không yêu cầu ông Võ Văn L cấp dưỡng nuôi con.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Vì lợi ích của con chung, bà Trần Thị Bé S, ông Võ Văn L hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Khi có lý do chính đáng, bà Trần Thị Bé S, ông Võ Văn L có thể thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

i n: Bà Trần Thị Bé S, ông Võ Văn L thống nhất xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

4

n : Bà Trần Thị Bé S, ông Võ Văn L thống nhất xác định không có nợ; không có ai gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết gì về nợ có liên quan đến vụ án này nên không xem xét, giải quyết.

2.5/

n hí dân ự ơ hẩ : Bà Trần Thị Bé S tự nguyện đồng ý nhận chịu 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011198 ngày 09 tháng 6 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; bà Trần Thị Bé S được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ