vanban.org

Quyết định 221/2025/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 24/03/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Quốc T1, bà Châu

Ngọc P; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc T3. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị T kiện Châu Ngọc P về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Quốc T1, bà Châu
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 221/2025/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ

ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán:

Ông Trần Ngọc Tuấn

Ông Dương Anh Văn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số:

330/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số H, đường C, Phường E, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Văn K. Địa chỉ: Số B,

đường Số D, Khu dân cư T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 01 năm 2020).

2. Bị đơn:

2.1. Bà Châu Ngọc P, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Châu Ngọc P: Ông Trần Quang V.

Địa chỉ: Số C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 4 năm 2023).

2.2. Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1963

Địa chỉ: Số G, đường N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Trần Quốc T1: Bà Đào Thị T2 hoặc

ông Trần Quang V. Cùng địa chỉ: Số C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 7 năm 2023).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Quốc T3, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Số F, đường Ỷ, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc 1: Số G, đường N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Địa chỉ liên lạc 2: Số B, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh.

3.2. Ông Hoàng Ngọc T4, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Số H, đường C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông T4: Ông Hà Văn K, sinh năm 1979; địa

chỉ: Số B, đường Số D, Khu dân cư T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 20/01/2020).

3.3. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1962;

Thường trú: Số E, đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Cu trú: 305 Chapel Rd, B, Australia.

Người đại diện hợp pháp của bà T5: Ông Lê Minh T6, sinh năm 1969, địa

chỉ: 5 N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy quyền (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 07/8/2023).

Tại Đơn kháng cáo ngày 19 tháng 6 năm 2024, bị đơn bà Châu Ngọc P và

ông Trần Quốc T1 kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn không có yêu cầu phản tố là chưa phù hợp, vì trong vụ án này ông, bà đã có văn bản phản tố ngày 12/7/2023 gửi Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay chưa được Tòa án phản hồi về việc có thụ lý hay không là vi phạm nguyên tắc tố tụng cơ bản của Tòa án. Bà Châu Ngọc P và ông Trần Quốc T1 kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 330/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Đơn kháng cáo ngày 25 tháng 6 năm 2024, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan ông Trần Quốc T3 kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là chưa phù hợp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ vụ án nhưng không xét yêu cầu độc lập của ông là chưa đúng quy định. Ông Trần Quốc T3 kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 330/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp phát biểu ý kiến như sau: Xét thấy cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 330/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 330/2024/QĐST-DS

ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đình chỉ giải quyết vụ án với lý do: Nguyên đơn rút đơn khởi kiện; bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quốc T3 gửi Đơn yêu cầu độc lập qua đường bưu điện, tuy nhiên Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.

Xét kháng cáo của bị đơn bà Châu Ngọc P và ông Trần Quốc T1.

Bà Châu Ngọc P và ông Trần Quốc T1 cho rằng ông, bà đã có văn

bản phản tố ngày 12/7/2023 gửi Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay chưa được Tòa án xem xét thụ lý.

Xét thấy: Ngày 11/4/2023 và ngày 12/7/2023 bà Châu Ngọc P và ông

Trần Quốc T1 có làm Đơn phản tố gửi Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 30/8/2023, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo số 547/2023/TB-TA về việc trả lại đơn phản tố với lý do Đơn phản tố thuộc trường hợp người yêu cầu phản tố không sửa đổi, bổ sung đơn phản tố, không nộp đầy đử tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Thẩm phán. Thông báo trên được gửi cho người đại diện theo ủy quyền của bà P là ông Trần Quang V nhận; người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là bà Đào Thị T2 nhận.

Như vậy, căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192, khoản 1 Điều 194 và Điều

202 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh trả lại đơn phản tố cho bà P và ông T1 là đúng quy định của pháp luật. Cho đến nay, ông T1, bà P không làm lại đơn phản tố nên Tòa án xem như ông, bà không có yêu cầu phản tố trong vụ án này là có căn cứ.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần

Quốc T3.

Ông T3 cho rằng Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ

vụ án nhưng không xét yêu cầu độc lập của ông là chưa đúng quy định.

Ngày 30/8/2023, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

ra Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 246/2023/QĐST-DS chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 18/9/2023 ông Trần Quốc T3 làm Đơn yêu cầu độc lập gửi Tòa án nhân dân Quận 8 qua đường bưu điện.

Việc tống đạt giấy triệu tập cho ông Trần Quốc T3 của Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện như sau:

Ngày 11/4/2024 Tòa án tống đạt giấy triệu tập ông T3 đến Tòa án;

đồng thời ngày 09/4/2024 Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết giấy triệu tập ông T3 tại 03 địa điểm: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; niêm yết tại địa chỉ Số F, đường Ỷ, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường H, quận T.

Ông Trần Quốc T3 không có mặt theo giấy triệu tập.

Ngày 03/5/2024 Tòa án tống đạt giấy triệu tập ông T3 đến Tòa án;

đồng thời ngày 07/5/2024 Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết giấy triệu tập ông T3 tại 03 địa điểm: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; niêm yết tại địa chỉ Số G, đường N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Quốc T3 không có mặt theo giấy triệu tập.

Theo Điều 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về Thủ tục yêu

cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì: Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Có nghĩa rằng, thủ tục xem xét đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xem xét như thủ tục xét đơn khởi kiện của nguyên đơn. Theo đó, khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây: “c. Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt...”.

Căn cứ các quy định nêu trên, ông Trần Quốc T3 đã được Tòa án

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án cấp sơ thẩm không thể thực hiện các thủ tục tố tụng về việc xem xét đơn yêu cầu độc lập của ông được.

Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Quốc T3 kháng cáo nhưng không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Quốc T1, bà Châu Ngọc P, ông Trần Quốc T3; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 330/2024/QĐST-HC ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên

ông Trần Quốc T1, bà Châu Ngọc P, ông Trần Quốc T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Quốc T1, bà Châu

Ngọc P; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc T3.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số:

330/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

2.1. Ông Trần Quốc T1, bà Châu Ngọc P mỗi người chịu 300.000 (ba trăm

ngàn) đồng. Được khấu trừ mỗi người 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005562, ngày 18/7/2024 và số 0069039 ngày 08/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Quốc T1, bà Châu Ngọc P đã đóng xong án phí dân sự phúc thẩm.

2.2. Ông Trần Quốc T3 chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Được khấu trừ

số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005622, ngày 29/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Quốc T3 đã đóng xong án phí dân sự phúc thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ