- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Th- Lại Thị S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Th:
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 220/2020/QĐST-HNGĐ | Hải Hậu, ngày 31 tháng 8 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Ngô Thị Hòe.
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Hồng Thắm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên họp: Ông Lại Minh Khôi- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 213/2020/TLST-HNGĐ ngày 13/8/2020 về việc yêu cầu “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm 1, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lại Thị S, sinh năm 1993. Địa chỉ: Xóm 8, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Anh Th, chị S đều vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi của anh Nguyễn Văn Th đề ngày 11-8-2020, bản tự khai ngày 13-8-2020, người yêu cầu anh Nguyễn Văn Th trình bày:
Do ảnh hưởng chất độc màu da cam nên vợ chồng anh Nguyễn Văn Th , chị Vũ Thị Vui không có con chung, luôn có nguyện vọng nhận con nuôi. Chị Lại Thị S có con ngoài giá thú là cháu Lại Thị Hương Mai, sinh ngày 16-4-2011 đang trong thời gian còn đi học nên không có điều kiện nuôi dưỡng. Vì vậy, vợ chồng anh Th, chị Vui và chị S đã thống nhất làm thủ tục cho nhận con nuôi. Theo đề nghị của các bên, Ủy ban nhân dân xã Hải Trung đã làm thủ tục cho nhận con nuôi theo quy định pháp luật. Tại Quyết định số 02/QĐ- UBND ngày 06 tháng 5 năm 2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hải Trung đã quyết định công nhận việc nuôi con nuôi giữa chị Lại Thị S và vợ chồng anh Th, chị Vui; công nhận cháu Lại Thị Hương Mai, sinh ngày 16-4-2011 là con nuôi của chị Vũ Thị Vui.
Sau khi làm thủ tục cho nhận con nuôi, vợ chồng anh Th, chị Vui đã làm thủ tục khai sinh lại cho con nuôi, đổi họ tên cho con nuôi từ Lại Thị Hương Mai thành Nguyễn Thị Bảo Ngọc, ngày khai sinh, nơi sinh vẫn giữ nguyên, đúng như giấy chứng sinh của cháu.
Năm 2013, chị Vũ Thị Vui bị bệnh trọng qua đời. Sau khi chị Vui chết, được sự giúp đỡ của bố mẹ đẻ, anh Th tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc, làm thủ tục cho cháu đi học trường tiểu học Hải Trung. Đến nay, cháu Ngọc đã hoàn thành xong chương trình học lớp 3 và phát triển bình thường về thể chất, tinh thần.
Nay vì điều kiện sức khỏe yếu, anh Th nhận thấy không còn đủ khả năng để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ngọc. Trong khi đó, chị Lại Thị S đã có công ăn việc làm ổn định, có đủ điều kiện và có nguyện vọng được nhận lại con để nuôi dưỡng. Chị S và anh Th đã cùng bàn bạc, thỏa thuận và xét thấy nguyện vọng của chị S là chính đáng, anh Th bệnh tật không nuôi được cháu nên anh Th làm đơn đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc (tức Lại Thị Hương Mai) theo quy định pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 13-8-2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lại Thị S có lời khai phù hợp với lời khai của anh Th về hoàn cảnh gia đình anh Th, chị S, việc cho nhận con nuôi và việc nuôi con nuôi. Đến nay, anh Th yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi, chị S nhất trí, không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên cũng đã chấp hành, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ việc: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Th về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, qua xem xét ý kiến của người yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:
Tại phiên họp, anh Nguyễn Văn Th, chị Lại Thị S đều vắng mặt có lý do. Dó đó, Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt anh Th, chị S là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét thấy: Chị Lại Thị S sinh con là cháu Lại Thị Hương Mai, sinh ngày 16-4-2011ngoài giá thú đang trong thời kỳ đi học, không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng; vợ chồng anh Nguyễn Văn Th, chị Vũ Thị Vui bị ảnh hưởng của chất độc da cam, không có con và có nguyện vọng được nuôi con. Chị Vui, anh Th và chị S thống nhất, thỏa thuận làm thủ tục cho nhận con nuôi đối với cháu Lại Thị Hương Mai, sinh ngày 16-4-2011. Sau khi thỏa thuận thống nhất, các bên đã đến Ủy ban nhân dân xã Hải Trung để làm thủ tục cho nhận con nuôi theo quy định. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hải Trung đã ra Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 02/QĐ- UBND ngày 06 tháng 5 năm 2011, công nhận cháu Lại Thị Hương Mai, sinh ngày 16-4-2011 là con nuôi của vợ chồng anh Th, chị Vui.
Từ khi được UBND xã Hải Trung ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi, chị Vui, anh Th đã làm lại giấy khai sinh, đổi tên cho cháu Lại Thị Hương Mai thành Nguyễn Thị Bảo Ngọc, giữ nguyên nơi sinh, ngày sinh như trong giấy chứng sinh và đã đón cháu Ngọc về nuôi, nhập khẩu vào hộ khẩu hộ anh Th tại xã Hải Trung. Quá trình nuôi dưỡng, cháu Ngọc khỏe mạnh, phát triển bình thường cả về thể lực và trí lực. Năm 2013, chị Vui chết, nhờ sự giúp đỡ của gia đình, anh Th tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngọc cho đến nay. Tuy nhiên, anh Th bị ảnh hưởng chất đọc da cam, sức khỏa yếu; chị S đã có việc làm, cuộc sống ổn định. Vì vậy, anh Th, chị S tự nguyện đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi. Đồng thời, quá trình làm việc tại Tòa án, cháu Ngọc trên 9 tuổi có ý kiến, nguyện vọng xin được về ở với mẹ đẻ là chị Lại Thị S. Xét yêu cầu của anh Th, chị S là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện, hoàn cảnh thực tế của các bên; phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngọc nên cần chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của anh Th.
Quá trình giải quyết, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn Th là người yêu cầu nên phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 25; khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Th:
1. Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc, sinh ngày 16-4-2011 của anh Nguyễn Văn Th.
2. Quyền, nghĩa vụ giữa anh Nguyễn Văn Th và cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Toà án có hiệu lực pháp luật.
3. Quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng của chị Lại Thị S đối với cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc được khôi phục kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Toà án có hiệu lực pháp luật.
4. Cháu Nguyễn Thị Bảo Ngọc được quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi.
5. Về lệ phí: Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Anh Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số AA/2017/0002258 ngày 13-8-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Anh Th đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi gửi: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Cơ quan THADS huyện; - UBND xã Hải Trung; - Cấp cho đương sự: - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thị Hòe |