- Tranh chấp gì? "Đỗ Đình Tới"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đình T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/QĐ - TA | Lập Thạch, ngày 18 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
2. Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Quốc Khánh.
Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/QĐ - TA ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Đỗ Đình T1. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 09 tháng 11 năm 2002.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 9/12.
Hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Đỗ Đình V và bà Ngô Thị N.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Mạnh H, chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện L (theo giấy uỷ quyền ngày 17/12/2024).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch: Bà Vũ Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đỗ Đình T1 là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2023, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hít vào cơ thể. Ngày 10/11/2024, T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị phát hiện dương tính với ma túy khi xét nghiệm nước tiểu. Ngày 20/11/2024, T1 có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy. Cùng ngày, Trạm y tế xã L, huyện L có kết quả xác định Đỗ Đình T1 nghiện chất ma túy (ma tuý đá). Ngày 20/11/2024, Công an xã L đã lập biên bản yêu cầu Tới trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 20/11/2024 phải đến Ủy ban nhân dân xã L để làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quy định nhưng hết thời hạn, T1 không tự nguyện đăng ký.
Tại biên bản ghi lời khai, bản tường trình ngày 27/11/2024 và biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 30/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã L, T1 đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân đang nghiện ma túy, kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã L là khách quan. Ngày 03/12/2024, Ủy ban nhân dân xã L có văn bản đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện L đưa T1 đi cai nghiện bắt buộc.
Với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T1, đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện L đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đình T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đình T1 đảm bảo đúng trình tự thủ tục và đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.
Người bị đề nghị có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, tuy nhiên trong biên bản ghi lời khai và bản tường trình đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:
Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; các Điều 40, 41, 42 và 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T1 đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma tuý trong xã hội. Mặc dù, nhận thức được rõ tác hại của ma tuý cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân nên T1 đã nghiện ma tuý từ năm 2023 đến nay. Ngày 20/11/2024, Công an xã L đã yêu cầu Tới đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng T1 không thực hiện là thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma tuý; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 để có điều kiện cải tạo bản thân.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp Tới vắng mặt nhưng các tài liệu trong hồ sơ thể hiện T1 là người nghiện ma túy và đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tới không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T1 đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma tuý, góp phần để tệ nạn ma tuý gia tăng, gây hiểm họa cho toàn xã hội nói chung và gây tác hại cho sức khỏe, phẩm giá cũng như phá hoại hạnh phúc, tài sản của đối tượng và gia đình nói riêng. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 như đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện L và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch là phù hợp.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đình T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch có quyền kháng nghị, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện L có quyền kiến nghị quyết định này; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L phối hợp với Công an huyện L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Trưởng Phòng LĐ, TB - XH huyện Lập Thạch; - Trưởng CA huyện Lập Thạch; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND xã Liễn Sơn; - Người bị áp dụng (Đỗ Đình T); - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Thu Trang |