vanban.org

Quyết định 22/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Lạng Sơn, đối với: Võ Minh T, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1986; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Km10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Lạng Sơn, đối với: Võ Minh T, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1986; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------
Số: 22/QĐ-TA
Hữu Lũng, ngày 07 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Ngô Thảo Nguyên.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Mai.

Ngày 07 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 22/QĐ-TA, ngày 27 tháng 11 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Võ Minh T. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 22 tháng 10 năm 1986.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 02/12.

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Con ông Võ Văn H và con bà Vũ Thị P.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Xuân Tuấn–Trưởng phòng, Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội-Dân tộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Mã Anh Tuấn-Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, hành vi vi phạm của Võ Minh T được tóm tắt như sau: Theo Quyết định số: 84/QĐ-UBND ngày 12/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã N, Võ Minh T bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng, do Võ Minh T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2010, đến nay vẫn sử dụng ma túy. Ngày 12/11/2020, Võ Minh T được chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 08/11/2020, Võ Minh T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/11/2020, Võ Minh T đã bị Công an xã N lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản tường trình ngày 12/11/2020, Võ Minh T trình bày bản thân nghiện ma túy từ năm 2010. Đến năm 2013 thì biết sử dụng ma túy đá, loại ma túy thường sử dụng là Methamphetamine, lần gần nhất sử dụng ma túy là ngày 08/11/2020.

Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ngày 12/11/2020 của Trạm Y tế xã N, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xác định Võ Minh T có nghiện chất ma túy Methamphetamine.

Tại Công văn số: 250/LĐTBXH-DT ngày 20/11/2020 của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội –Dân tộc huyện Hữu Lũng đã đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội-Dân tộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Minh T với thời hạn như trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn có ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về nội dung xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính, hồ sơ đề nghị xem xét đã đầy đủ và đúng trình tự, thủ tục: Căn cứ khoản 2 Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 8, Điều 9, Điều 12, Điều 13 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016. Phòng Lao động,Thương binh, Xã hội-Dân tộc huyện Hữu Lũng đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Võ Minh T là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng áp dụng thời gian đưa Võ Minh T đi cai nghiện từ 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Minh T đã đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 13 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP của Chính phủ; Điều 1 của Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Về thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị: Võ Minh T có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Do vậy, Ủy ban nhân dân xã N lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thời hiệu áp dụng: Ngày 08/11/2020, Võ Minh T bị phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 12/11/2020. Tính từ ngày Võ Minh T thực hiện hành vi vi phạm đến nay đả, baỏ thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, Võ Minh T là người đủ 18 tuổi trở lên, nghiện chất ma túy, có nơi cư trú ổn định; trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn nghiện ma túy và tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Võ Minh T không bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Do đó, đã đủ căn cứ xác định Võ Minh T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 của Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ. Xét thấy, đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội-Dân tộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Minh T là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Như vậy hồ sơ đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Minh T là đầy đủ, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ vi phạm: Hành vi của Võ Minh T đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, Võ Minh T đã có hành vi sử dụng chất ma túy. Điều này chứng tỏ Võ Minh T không từ bỏ được ma túy. Việc giáo dục tại xã không đủ điều kiện để ngăn ngừa Võ Minh T. Do đó cần thiết phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để chấn chỉnh nhận thức và lối sống giúp Võ Minh T có ý thức chấp hành pháp luật, trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc Võ Minh T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và không có tình tiết tăng nặng.

Từ những phân tích, đánh giá về tính hợp pháp của hồ sơ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức độ nhận thức của Võ Minh T và ý kiến của những người tham gia phiên họp, thấy rằng việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Minh T với thời hạn 18 (mười tám) tháng là cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106, Điều 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 của Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Lạng Sơn, đối với: Võ Minh T, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1986; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Km10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định này. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xém xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn và Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội–Dân tộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn thi hành quyết định này.

Cỡ chữ