- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà C về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết đối với ông A.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Luật Phí và lệ phí và Nghị; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/2022/QĐST-VDS | Quận 3, ngày 26 tháng 12 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Nguyễn Gia Phước.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên họp: Bà Lê Mộng Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 149/TLST-DS ngày 06 tháng 06 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 323/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà C, sinh năm 1956
Địa chỉ: Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông H, sinh năm 1953
2. Bà H2, sinh năm 1958
3. Bà C2, sinh năm 1960
4. Ông T, sinh năm 1961
Cùng địa chỉ: Đường N, Phường M, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên họp, vắng mặt ông H, bà H2, bà C2, ông T (có đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
1. Tại đơn yêu cầu, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà C trình bày:
Gia đình bà C có các thành viên sau:
- Cha là ông D, sinh ngày 25/6/1916 (đã chết)
- Mẹ là bà R, sinh ngày 01/6/1925 (đã chết)
- Anh ruột là ông H, sinh năm 1953
- Anh ruột là ông A, sinh năm 1955
- Bà C, sinh năm 1956
- Em ruột là bà H2, sinh năm 1958
- Em ruột là bà C2, sinh năm 1960
- Em ruột là ông T, sinh năm 1961
- Em ruột là ông N, sinh năm 1963 (đã chết)
Ông A đã bỏ nhà đi từ năm 1985 cho đến nay không thấy tin tức hoặc trở về, đến năm 1987 thì ông A bị xóa hộ khẩu tại địa chỉ Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình đã tìm kiếm nhắn tin khắp nơi nhưng không nhận được tin tức gì của ông A.
Do đó, bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A đã chết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 3 đã xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nội dung cụ thể:
Theo kết quả xác minh của Công an Phường Võ Thị Sáu, Quận 3 với nội dung : Ông A, sinh năm 1955 đã bỏ nhà đi từ tháng 10 năm 1985 và bị xóa hộ khẩu vào ngày 05/01/1987.
Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân Quận 3, Ủy ban nhân dân Phường Võ Thị Sáu, Quận 3 với nội dung : Không có thông tin kết hôn cũng như khai sinh cho con tại địa phương của ông A.
Bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông A, sinh năm 1955; Đã xóa khẩu bỏ đi biệt tích từ năm 1987; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường N, Phường M, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại biên bản lấy lời khai, ông H, bà H2, bà C2, ông T không có ý kiến gì về việc bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A đã chết.
Tòa án nhân dân Quận 3 đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố là đã chết số 174/2022/QĐ – TA ngày 19/7/2022 và đã được đăng trên báo Thanh niên 03 số liên tiếp ngày 27,28,29/7/2022 và phát sóng ở Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh 03 lần trong 03 ngày 08,09,10/8/2022, được đăng lên Cổng thông tin điện tử của ngành Tòa án để tìm ông A.
Kể từ số báo đầu tiên ngày 27/7/2022 cho đến nay đã hết 04 tháng nhưng địa phương, gia đình không ai nhận được thông tin của ông A.
3. Tại phiên họp: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành qui định pháp luật, Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tiến hành tố tụng đúng theo qui định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự có căn cứ xác định ông A đã chết. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân Quận 3 nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết đối với ông A. Do người bị yêu cầu có nơi cư trú cuối cùng ở Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ qui định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền.
Các đương sự đều đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt nên Tòa án giải quyết vắng mặt họ theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét đơn yêu cầu và lời trình bày của bà C, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết quả điều tra, xác minh và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự, có cơ sở để xác định: Ông A đã bỏ đi biệt tích từ tháng 10 năm 1985, bị xóa hộ khẩu ngày 05/01/1987. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông A và đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng và Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định. Đến nay đã hết 4 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì ông A.
Như vậy, ông A đã biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống, ông A đã bỏ đi biệt tích từ tháng 10 năm 1985, bị xóa hộ khẩu ngày 05/01/1987 nên ngày biết tin tức cuối cùng của ông A là ngày 05/01/1987. Căn cứ vào điểm d Khoản 1 Điều 71 và căn cứ vào Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Tòa án xác định ngày chết của ông A là ngày 06/01/1992.
Về lệ phí dân sự sơ thẩm : Bà C được miễn án phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà C về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết đối với ông A.
2. Tuyên bố ông A, sinh năm 1955; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết ngày 06/01/1992.
Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố đã chết được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định pháp luật.
Gia đình bà C thực hiện việc đăng ký khai tử cho ông A theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
3. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà C được miễn án phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà C, ông H, bà H2, bà C2, ông T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân nhân TP. Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 3; - Chi cục THA Dân sự Quận 3; - UBND Phường Võ Thị Sáu; Quận 3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Nguyễn Gia Phước |