vanban.org

Quyết định 22/2022/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 08/11/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị T về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Thanh L được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị T về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2022/QĐDS-STQuy Nhơn, ngày 08 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thị Phương Thảo.

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 10/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2022 về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 334/2022/QĐST-VDS ngày 25 tháng 10 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng như sau:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T , sinh năm: 1963 cư trú tại: 171/28 Ngô Mây, tổ 5, KV1, P. Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

2. Người có liên quan đến việc yêu cầu: Ông Nguyễn Thanh L , sinh năm 1965; nơi cư trú cuối cùng: 171/28 Ngô Mây, tổ 5, KV1, P. Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Thành N, sinh năm: 1991; cư trú tại: Căn hộ 18.23, Tháp M1, khu phức hợp TMDV, NOXH, KDC Bắc Rạch Bà Bướm, khu phố 1, phường Phú Thuận, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 14/5/2022, tại bản tự khai của người yêu cầu và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh L là vợ chồng đã ly hôn theo bản án số 139/2006/HNGĐ-ST ngày 19/6/2006. Quá trình chung sống ông, bà có 01 con chung: Nguyễn Thành N sinh năm: 1991. Từ năm 2006 ông L bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không nói lý do gì cho gia đình biết, gia đình đã đi tìm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về ông L và ông L cũng không liên lạc gì với gia đình. Từ khi ông L bỏ nhà đi cho đến nay đã 16 năm mà gia đình cũng không có tin tức xác thực về ông L còn sống. Bà Lê Thị T là người yêu cầu đã làm thủ tục tìm kiếm thông tin của ông L trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 04 tháng. Đến nay đã hết thời hạn đăng tin nhưng bà T vẫn không có tin tức gì về ông L là còn sống và ông L cũng không có liên lạc gì với bà Thêm.

Nay bà Lê Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Thanh L sinh năm: 1965 để gia đình bà làm các thủ tục về tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành N trình bày: Anh là con của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Thanh L . Từ năm 2006 đến nay ông L bỏ nhà đi khỏi địa phương từ đó cho đến nay không liên lạc gì cho gia đình. Nay anh thống nhất như ý kiến của bà Lê Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Thanh L là đã chết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về giải quyết việc dân sự như sau:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ việc và trong quá trình giải quyết việc dân sự đến khi mở phiên họp đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; người tham gia phiên phiên họp đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa căn cứ Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 71 Bộ luật dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Thanh L là đã chết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Thanh L có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại 171/28 Ngô Mây, tổ 5, khu vực 11, phường Quang Trung, TP. Quy Nhơn, Bình Định. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên việc bà T yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Thanh L thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn theo trình tự sơ thẩm.

Bà Lê Thị T là người yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367, Toà mờ phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt bà Thêm.

Về nội dung: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Thanh L là vợ chồng đã ly hôn theo bản án số 139/2006/HNGĐ-ST ngày 19/6/2006. Quá trình chung sống ông, bà có 01 con chung là anh Nguyễn Thành N Ông Nguyễn Thanh L bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2006 cho đến nay, không liên lạc được với ai và gia đình cũng không liên lạc được với ông L . Địa phương nơi cư trú xác nhận ông Nguyễn Thanh L đã vắng mặt tại địa phương từ năm 2006 đến nay.

Ngày 15/6/2022 Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết đối với ông Nguyễn Thanh L . Bà T đã thực hiện xong việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (đăng báo Pháp luật 03 kỳ liên tiếp và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh trong 03 ngày liên tiếp). Việc đăng tin thực hiện đúng theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (04 tháng) vẫn không có tin tức xác thực ông Nguyễn Thanh Liêm còn sống. Do đó, căn cứ vào điểm d điều 71 Bộ luật dân sự. Toà chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T về việc tuyên bố ông Nguyễn Thanh L đã chết là đúng quy định pháp luật.

Về ngày chết của ông Nguyễn Thanh L : Theo lời khai trình bày của bà Lê Thị T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự thì chỉ xác định thời gian ông Liêm bỏ đi từ năm 2006 mà không xác định được ngày, tháng cụ thể. Do đó, thời hạn 05 năm liền biệt tích của ông L được xác định từ ngày 01/01/2007 và ngày chết của ông L được xác định được xác định vào ngày 01/01/2012 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72, Bộ luật dân sự thì:

- Quan hệ hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Trường hợp ông Nguyễn Thanh L trở về hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tin xác thực ông Nguyễn Thanh L còn sống thì bà T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Toà án huỷ bỏ Quyết định tuyên bố ông Nguyễn Thanh L là đã chết. Khi quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ tài sản của ông L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 68, 71, 72 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm b khoản 2 điều 39; điều 68, 143, 144; khoản 2 điều 146, 149, 361, 367, 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị T về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Tuyên bố ông Nguyễn Thanh L , sinh năm: 1965, nơi cư trú cuối cùng: 171/28 Ngô Mây, tổ 5, KV1, P. Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã chết ngày 01/01/2012 .

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Thanh L được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004059 ngày 09 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Bà Lê Thị Thêm đã nộp đủ lệ phí.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ