vanban.org

Quyết định 22/2021/HNGĐ-QĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/06/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị P T T1 và chị P T T2 về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu P T G L (tên gọi khác: T G L), sinh ngày 11/4/2010.

Huỷ bỏ giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ-UBND ngày 18/8/2015 của Uỷ ban nhân dân xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương. Quyền và nghĩa vụ giữa mẹ nuôi là chị P T T1 và con nuôi là cháu P T G L (tên gọi khác: T G L) chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Chấm dứt nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị P T T1 và chị P T T2 về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu P T G L (tên gọi khác: T G L), sinh ngày 11/4/2010.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2021/QĐST-VDS
Ngày: 30 - 6 - 2021.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“Về việc yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi”

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Chủ tọa phiên họp: Ông Mạc Minh Quang - Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số 85/2021/TLST-VDS ngày 23/4/2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp số 98/2021/QĐST-VDS ngày 17/6/2021, giữa:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Chị P T T1 - sinh năm 1996, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn KĐ, xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú hiện nay: CHLB Đức.

Người được chị T1 ủy quyền giao nhận văn bản: Anh N B D - sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn KĐ, xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương.

- Chị P T T2 - sinh năm 1988, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn KĐ, xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú hiện nay: CHLB Đức.

Người được chị T2 ủy quyền giao nhận văn bản: Anh N Đ L - sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn AL, xã AL, huyện NS, tỉnh Hải Dương.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Cháu P T G L (tên gọi khác: T G L) - sinh ngày 11/4/2010, địa chỉ: Thôn KĐ, xã H C, huyện NS, tỉnh Hải Dương.

Người giám hộ cho cháu L: Anh N B D - sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn KĐ, xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương.

- Anh T V S - sinh năm 1985, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn AP, xã ĐC, huyện CG, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Cộng hòa Séc.

Người được anh S ủy quyền giao nhận văn bản: Anh P V B - sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn AP, xã ĐC, huyện CG, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi và bản tường trình của chị T1, chị T2, anh S và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Ngày 11/4/2010, vợ chồng anh T V S, chị P T T2 sinh đôi hai con trai là T G L và T G N. Năm 2015, do điều kiện hoàn cảnh gia đình, vợ chồng anh S chị T2 thống nhất thỏa thuận cho chị P T T1 là em gái chị T2 nhận nuôi con nuôi cháu T G L và làm thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi tại UBND xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương vào ngày 18/8/2015. Cháu L được cải chính thay đổi họ theo họ mẹ nuôi từ T G L, sinh ngày 11/4/2010 thành P T G L, sinh ngày 11/4/2010. Sau khi làm thủ tục nuôi con nuôi, cháu L vẫn sống cùng bố mẹ đẻ một thời gian và được sự quan tâm chăm sóc của chị T1 bảo đảm quyền lợi về mọi mặt như cha mẹ đẻ với con đẻ. Năm 2016, chị T1 và chị T2 đều đi nước ngoài lao động tại Cộng hòa liên bang Đức, anh S đi lao động tại Cộng hòa Séc, cháu L ở lại Việt Nam nhờ gia đình anh N B D trông nom, chăm sóc giúp cho đến nay. Nay chị T1 đã xây dựng gia đình lấy chồng người nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con nuôi đã trao đổi với bố mẹ đẻ là anh S, chị T2 đồng ý nhận lại con đẻ nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu P T G L; chị T2 xác định hiện tại có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con đẻ, mong muốn được nhận lại cháu L để đón con sang Đức sinh sống cùng; anh S xác định anh và chị T2 đã ly hôn, anh không có điều kiện trực tiếp nuôi con, đồng ý để chị T1 được toàn quyền nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu L; cháu L cũng có nguyện vọng được ở mẹ đẻ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về quá trình giải quyết việc dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương chấp nhận yêu cầu của chị P T T1 và chị P T T2 về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu P T G L. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T1 chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Người yêu cầu là chị T1, chị T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh S là người Việt Nam hiện đang sinh sống ở nước ngoài có đơn yêu cầu về việc chấm dứt nuôi con nuôi. Căn cứ khoản 5 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đơn yêu cầu về việc chấm dứt nuôi con nuôi, bản tường trình và giấy ủy quyền của chị T1, chị T2 nộp cho Tòa án đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức; bản tường trình và giấy ủy quyền của anh S đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Séc. Do vậy có căn cứ công nhận các văn bản trên là hợp pháp.

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo ủy quyền đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

. Về nội dung: Tháng 8/2015, chị P T T1 là em gái ruột chị P T T2 nhận cháu T G L, sinh ngày 11/4/2010 làm con nuôi, được sự đồng ý của cha mẹ đẻ là anh T V S, chị P T T2 và được UBND xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương chứng nhận đăng ký nuôi con nuôi vào ngày 18/8/2015, cháu T G L được cải chính thay đổi họ theo họ mẹ nuôi thành P T G L. Sau khi đăng ký nuôi con nuôi, cháu L vẫn sống cùng bố mẹ đẻ và được sự quan tâm chăm sóc của chị T1 bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mẹ nuôi đối với con nuôi và giữa con nuôi với mẹ nuôi như cha mẹ đẻ, con đẻ. Nay chị T1 đang sống ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con nuôi làm đơn yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu L , chị T2 và anh S cũng nhất ý yêu cầu của chị T1 và mong muốn được nhận lại con đẻ để được trực tiếp nuôi dưỡng, anh S đồng ý để chị T2 được toàn quyền nuôi con, cháu L cũng có nguyện vọng được ở mẹ đẻ. Xét việc yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu L là ý chí tự nguyện của các bên và phù hợp pháp luật, cần chấp nhận yêu cầu của chị T1, chị T2 về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26 và Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về lệ phí: Chị P T T1 tự nguyện chịu 300.000đ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị P T T1 và chị P T T2 về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu P T G L (tên gọi khác: T G L), sinh ngày 11/4/2010.

Huỷ bỏ giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ-UBND ngày 18/8/2015 của Uỷ ban nhân dân xã HC, huyện NS, tỉnh Hải Dương.

Quyền và nghĩa vụ giữa mẹ nuôi là chị P T T1 và con nuôi là cháu P T G L (tên gọi khác: T G L) chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực.

Giao chị P T T2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con P T G L (tên gọi khác: T G L), sinh ngày 11/4/2010 cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành.

2. Về lệ phí: Chị P T T1 tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0005960 ngày 22/4/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T1 đã nộp đủ lệ phí.

3. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận hoặc quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ