- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nhật L và Nguyễn Huy H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nhật L và anh Nguyễn Huy H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/2019/QĐST- HNGĐ | Hải Dương, ngày 17 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lại Anh Vân
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy – Kiểm sát viên, tham gia phiên họp
Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 77/2019/TLST-HNGĐ ngày 27/02/2019 về việc ‘‘Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn ". Theo Quyết định mở phiên họp số 28/2019/QĐMPH-HNGĐ ngày 05/4/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu:
1.Chị Nguyễn Thị Nhật L, sinh ngày 25/02/1997.
Trú tại: Thôn K, xã S, huyện M, tỉnh Hải Dương ( vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Huy H, sinh ngày 13/5/1995.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số 96 Đ, Quận H, Thành phố Hà Nội ( vắng mặt).
Địa chỉ đăng ký kết hôn: Eisenstr.90, 40227,Dussel dorf, CHLB Đức.
Hiện ở: Stabeler 10.80933 Minchen, Germany.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Nhật L và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện : Qua quen biết giới thiệu của hai gia đình, chị và anh H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh Hải Dương ngày 24/6/2015. Khoảng 1 tháng sau khi đăng ký kết hôn anh H quay lại Đức làm việc. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc với nhau, nhưng do khoảng cách về địa lý, do chị không sang Đức đoàn tụ được với chồng dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt và chấm dứt liên lạc từ cuối năm 2017, hai bên xác định không quay lại được với nhau. Đầu năm 2019 anh H đã thủ tục ly hôn có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Liên Bang Đức gửi về để chị nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Nay chị và và anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Về con chung, tài sản chung : Không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Theo đơn ly hôn của anh Nguyễn Huy H và các tài liệu đã được Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Đức hợp pháp hóa lãnh sự thể hiện: Do xa cách lâu ngày, giữa anh và chị L không còn tình cảm với nhau, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.
Về con chung, tài sản chung: Không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do điều kiện không về được Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho chị L giao nhận các tài liệu cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
-Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh Nguyễn Huy H và chị Nguyễn Thị Nhật L đã trầm trọng, không thể kéo dài. Do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thỏa thuận ly hôn của chị L và anh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
. Về tố tụng: Anh Nguyễn Huy H đang sinh sống và làm việc tại Stabeler 10.80933 Minchen, Germany có đơn ly hôn chị Nguyễn Thị Nhật L đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án chị L, anh H đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt chị L, anh H.
. Về nội dung:
Chị Nguyễn Thị Nhật L và anh Nguyễn Huy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh Hải Dương ngày 24/6/2015, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn khoảng 1 tháng anh H sang Đức làm việc, còn chị L ở Việt Nam. Do điều kiện chị L không sang Đức đoàn tụ với chồng dẫn đến hai bên không tìm thấy tiếng nói chung. Nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn, xét thấy mâu thuẫn giữa chị L, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị.
Về con chung, tài sản chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
. Về Lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Nhật L tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí ly hôn theo quy định.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Áp dụng khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nhật L và anh Nguyễn Huy H.
2. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Nhật L tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0006072 ngày 26 tháng 02 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp ( Đã ký) Lại Anh Vân |