vanban.org

Quyết định 22/2019/QĐ-TA

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 06/06/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Ông Lê Tuấn Đ. Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1995. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Khu N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2019/QĐ-TATP. Lạng Sơn, ngày 06 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Hải Đoàn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lành Thị Thanh Nụ.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 20/2019/QĐ-TA ngày 29 tháng 5 năm 2019, đối với:

Ông Lê Tuấn Đ. Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1995.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 6/12

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Khu N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 03/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố L, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 21 tháng.

Con ông Lê Văn T và bà Hoàng Mỹ N.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Duy Khiêm - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn: Ông Phạm Văn Hưng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lê Tuấn Đ là người nghiện chất ma túy từ năm 2015 và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 03 tháng. Đến ngày 22 tháng 11 năm 2018, Lê Tuấn Đ chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã phường theo Giấy chứng nhận số 479a/GCN-UBND ngày 22 tháng 11 năm 2018, nhưng Lê Tuấn Đ vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy tổng hợp) và bị lệ thuộc vào chất ma túy. Kết quả kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy ngày 23/4/2019 cho thấy Lê Tuấn Đ dương tính với chất ma túy.

Ngày 23/4/2019, Công an phường Đ, thành phố L đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Tuấn Đ.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đối tượng Lê Tuấn Đ là người nghiện ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/21013 của Chính phủ nhưng vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và bị lệ thuộc vào chất ma túy. Về nhân thân Lê Tuấn Đ có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị đã thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trên cơ sở phân tích trên, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L đề nghị đưa Lê Tuấn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị; trình tự, thủ tục tại phiên họp; người tiến hành phiên họp thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị đã nhận ra lỗi lầm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân Lê Tuấn Đ là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức được hành vi sử dụng chất ma túy là trái phép. Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm và nhân thân đề nghị đưa Lê Tuấn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 21 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tuấn Đ được thực hiện như sau:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo đầy đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện Lê Tuấn Đ là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường do nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện và bị lệ thuộc vào chất ma túy, không có căn cứ chứng minh Lê Tuấn Đ bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính, nên Lê Tuấn Đ thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Theo biên bản vi phạm hành chính do Công an phường Đ, thành phố L lập ngày 23/4/2019 thể hiện Lê Tuấn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy tính đến ngày hôm nay chưa quá 03 tháng, vì vậy vẫn trong thời hiệu xử lý theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Theo các tài liệu, chứng cứ xác định được Lê Tuấn Đ có nơi cư trú tại Khu N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn nên theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền lập hồ sơ thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ và Công an phường có trách nhiệm giúp thu thập tài liệu, lập hồ sơ là đúng quy định.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tuấn Đ là hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Hành vi vi phạm của Lê Tuấn Đ đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có tiến bộ, hành vi này gây ảnh hưởng cho gia đình và xã hội, gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố L.

Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết tăng nặng, có một tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét về nhân thân Lê Tuấn Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện, năm 2016 Lê Tuấn Đ bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 21 tháng đến ngày 09/7/2018 thì chấp hành xong nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Do đó, việc đưa Lê Tuấn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ, các ý kiến tại phiên họp, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị. Xét thấy cần đưa Lê Tuấn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, đảm bảo có thời gian hợp lý để lao động, học tập và cai nghiện ma túy dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Lê Tuấn Đ trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Áp dụng Điều 4; Điều 8; Điều 9; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ. Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ. Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính Phủ. Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 của Bộ Công an.

Áp dụng Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Ông Lê Tuấn Đ. Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1995. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Khu N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố L chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ