vanban.org

Quyết định 22/2017/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn đơn ông Hoàng Văn T và bị đơn bà Chiêm Thị Mỹ L"
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
N
ỊA – VŨNG U

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2017/QĐST-DSLong Điền, ngày 08 tháng 8 năm 2017

QUYẾ ĐỊNH

ĐÌN C GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm; Xét thấy: Nguyên đơn có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾ ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 28/2017/TLST- DS ngày 04 tháng 5 năm 2017, về việc: “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1954 Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Uỷ quyền cho ông Nguyễn Bá Đ, sinh năm: 1976 (theo giấy ủy quyền ngày 29/3/2017). Địa chỉ: đường M, phường T, thành phố R, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà Chiêm Thị Mỹ L, sinh năm 1964 Địa chỉ: khu phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1/ Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1963 Địa chỉ: khu phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 2/ Bà Lê Thị T, sinh năm: 1958 Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 2. Hoàn lại cho ông Hoàng Văn T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004395 ngày 04 tháng 5 năm 2017 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền. 3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ