- Tranh chấp gì? "Lê Phú Th kiện UBND thành phố L"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Phú Th.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ——— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 217/2018/QĐ-PT | An Giang, ngày 22 tháng 6 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Xuân Minh
Các Thẩm phán:
Ông Trương Văn Bình
Ông Hoàng Thanh Dũng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Minh Sơn – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
06/2018/QĐST-HC ngày 09 tháng 2 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm g, h khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc trường hợp thu hồi đất”, giữa:
Người khởi kiện: Ông Lê Phú Th, sinh năm 1948.
Địa chỉ: đường Th, khóm B 2, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: đường Tr, phường M1, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.
Địa chỉ: đường T, phường M, Thành phố L, An Giang.
2/. Ban quản lý chợ M
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế T, Trưởng ban quản lý chợ M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại đơn kháng cáo ngày 28/2/2018, ông Lê Phú Th kháng cáo toàn bộ quyết định đình chỉ sơ thẩm, đề nghị hủy quyết định đình chỉ và tiếp tục giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông.
XÉT THẤY:
Ngày 13/6/2012, ông Lê Phú Th khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân (UBND thành phố L) phải ban hành quyết định hành chính để bồi thường bổ sung diện tích đất đã thu hồi của ông với số tiền 13.500.000.000 đồng. Bởi lẽ, ông Th cho rằng năm 1980, ông nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Th1 quyền sử dụng diện tích đất 5.000m2. Diện tích đất này đã bị UBND tỉnh An Giang thu hồi theo Quyết định số 361/QĐ.UB ngày 11/8/1987, nhưng trong quyết định thu hồi không có tên ông, ông chỉ được giao diện tích đất 300m2 để xây dựng nhà ở năm 1992 mà không được bồi thường thỏa đáng.
Ngày 27/8/2015, ông Lê Phú Th có đơn khởi kiện bổ sung xác định ông
khởi kiện yêu cầu: Chủ tịch UBND thành phố L thu hồi văn bản số 822/UBND-TTr ngày 25/8/2008 trả lời khiếu nại của ông; Chủ tịch UBND tỉnh An Giang thu hồi văn bản số 76/UBND ngày 16/10/2009 trả lời khiếu nại của ông và yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh An Giang ban hành quyết định bổ sung về việc thu hồi của gia đình ông 5.400m2 và bồi thường theo quy định pháp luật.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng phúc thẩm xét
thấy: UBND tỉnh An Giang ra quyết định Quyết định số 361/QĐ.UB ngày 11/8/1987 thu hồi đất của một số hộ dân, sau đó giao cho UBND thành phố L xây dựng chợ M. Quyết định số 361/QĐ.UB không có tên ông Lê Phú Th. Ông Th khai rằng lúc này ông Th biết và có khiếu nại nên UBND tỉnh An Giang đã thương lượng trả cho ông Th 7 lượng vàng để và 03 nền nhà, ông Th đã giao đất lại cho nhà nước. Sau đó, ông Th không khiếu nại quyết định thu hồi đất hay khiếu nại hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền, đến năm 2012, ông Th mới khởi kiện yêu cầu ban hành quyết định thu hồi đất là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Đối với yêu cầu khởi kiện buộc thu hồi văn bản số 822/UBND-TTr và văn
bản số 76/UBND, Hội đồng xét xử xét thấy ông Th yêu cầu ban hành quyết định đền bù thêm, ông không khiếu nại quyết định thu hồi đất hay hành vi hành chính trước đó. Tòa án cấp sơ thẩm xác định văn bản số 822/UBND-TTr ngày 25/8/2008 của Chủ tịch UBND thành phố L và văn bản số 76/UBND ngày 16/10/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh An Giang về việc trả lại đơn khiếu nại không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là phù hợp với quy định pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Lê Phú Th là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm.
Ông Lê Phú Th được miễn nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 243 của Luật tố tụng hành chính năm 2015,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Phú Th.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
06/2018/QĐST-HC ngày 09 tháng 2 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
2/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
CÁC THẨM PHÁN
| Trương Văn Bình Hoàng Thanh Dũng | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Xuân Minh |