vanban.org

Quyết định 216/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tống Thị T và anh Lương Văn S. Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ (nay là xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp cho chị Tống Thị T và anh Lương Văn S kh…

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Chị Tống Thị T và anh Lương Văn S thoả thuận thống nhất là chị Tống Thị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 01 con chung tên Lương Thị D (nữ), sinh ngày 15/02/2009. Chị Tống Thị T không yêu cầu anh Lương Văn S cấp dưỡng nuôi con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tống Thị T và Lương Văn S"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tống Thị T và anh Lương Văn S. Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ (nay là xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp cho chị Tống Thị T và anh Lương Văn S kh…
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 216/2022/QĐST-HNGĐChâu Thành A, ngày 28 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 408/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Chị Tống Thị T, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Anh Lương Văn S, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 11 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 18 tháng 11 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tống Thị T và anh Lương Văn S. Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ (nay là xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp cho chị Tống Thị T và anh Lương Văn S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày 28 tháng 11 năm 2022.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Chị Tống Thị T và anh Lương Văn S thoả thuận thống nhất là chị Tống Thị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 01 con chung tên Lương Thị D (nữ), sinh ngày 15/02/2009. Chị Tống Thị T không yêu cầu anh Lương Văn S cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Lương Văn S không ai được quyền cản trở. Riêng 02 con chung tên Lương Văn Đựng (nam), sinh ngày 19/6/1998 và Lương Văn Chiêu (nam), sinh ngày 19/5/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tống Thị T tự nguyện chịu số tiền là 150.000đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị Tống Thị T đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012244 ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành án phí, chị Tống Thị T được nhận lại số tiền chênh lệch là 150.000đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ