vanban.org

Quyết định 213/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi tháng) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng vắng mặt tại phiên hợp có quyền làm đơn khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn Phúc là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và trong diện quản lý sau cai nghiện, Lê Văn Phúc đã sử dụng trái phép chất ma túy"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ BIÊN HÒAĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Số: 212/QĐ-T3, ngày 19 tháng 06 năm 2025.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào

cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI.

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị H.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Hồng Uyên San.

Ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 213/2025/QĐ-TA ngày 06 tháng 06 năm 2025, đối với:

Đối với: Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1982.

Nơi thường trú: Số B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

Nơi ở hiện tại: Số B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không;

Con ông Lê Ngọc T1, sinh năm 1947 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1952.

Tại phiên họp có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông/Bà Tạ Thanh T2 – Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Anh Lê Ngọc T có nơi cư trú tại Số B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong bản tường trình ngày 30/05/2025 và biên bản làm việc tại Công an phường T ngày 30/05/2025, anh T khai đã sử dụng chất ma túy từ năm 1999, đến nay vẫn tiếp tục sử dụng và lần sử dụng ma túy gần đây nhất trước khi bị phát hiện là ngày 30/05/2025. Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 30/05/2025 bằng que test nước tiểu đối với anh T thể hiện kết quả dương tính. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 01/06/2025 của Trạm y tế phường T về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: Anh T có nghiện ma túy tổng hợp H1.

Tại phiên họp, anh Lê Ngọc T vắng mặt.

Hiện anh T không tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng.

Ý kiến của đại diện Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai: Lê Ngọc T là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng sức khỏe, tinh thần của người nghiện. Việc điều trị bắt buộc đối với người nghiện ma túy là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho người nghiện ma túy cắt cơn, từ bỏ chất ma túy, phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội. Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 24 tháng, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Việc thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền, hồ sơ đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm cho việc xem xét, phán quyết của Tòa án, đề nghị Tòa án chấp nhận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY

Về đối tượng áp dụng: Lê Ngọc T là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và trong diện quản lý sau cai nghiện, Lê Ngọc T đã sử dụng trái phép chất ma túy. Theo quy định tại 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ thì đây là đối tượng cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 30/05/2025, anh T sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị phát hiện và lập biên bản. Theo Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính và các Điều 41, 42 và 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Như vậy, việc Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi tháng) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng vắng mặt tại phiên hợp có quyền làm đơn khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị bằng văn bản, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bằng văn bản đối với quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phối hợp với Công an thành phố B đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định này.

Cỡ chữ