- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 213/2022/HSST Ngày 27 tháng 10 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Phương Mai
Bà Chu Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Trương Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 223/2022/TLST-HS ngày 12/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T ; Sinh năm: 1955; giới tính : Nam ; Đăng ký hộ khẩu thường trú : Số 54 Phố H, phường PT, thị xã ST, HN; Nơi cư trú: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Họ tên cha: Lê Văn C (đã chết); Họ tên mẹ: Khuất Thị T (đã chết); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai; Có 03 con; Danh chỉ bản số: 365 lập ngày 07/7/2022 tại Công an quận Hoàn Kiếm Hà Nội.
Nhân thân: 03 tiền sự, 13 tiền án
Tiền sự: 03 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản, Tập trung cải tạo về tội hình sự và Đánh bạc (ngoài thời hiệu).
Tiền án:
- Ngày 25/05/1994, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 09 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy (AS: 20/HSST) - Án tích đã được xóa;
- Ngày 27/5/1995, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 24 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy (AS: 22/HSST) - Án tích đã được xóa;
- Ngày 25/9/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 117.000 đồng (AS: 189/HSST) – Án tích đã được xóa (Theo Nghị quyết 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999);
- Ngày 22/11/2002, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 55.000 đồng (AS: 545/HSST) – Án tích đã được xóa (Theo Nghị quyết 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999);
- Ngày 11/10/2005, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 250.000 đồng (AS: 501/HSST) Án tích đã được xóa (Theo Nghị quyết 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999);
- Ngày 29/01/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 400.000 đồng (AS: 28/HSST) – Án tích đã được xóa (Theo Nghị quyết 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999);
- Ngày 12/3/2010, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.700.000 đồng (AS: 45/HSST) – Án tích đã được xóa (Theo Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009);
- Ngày 25/02/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.760.000 đồng (AS: 60/HSST). Ra trại ngày 21/3/2012 - Án chưa được xóa;
- Ngày 24/7/2012, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày phạm tội là 27/4/2012. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 900.000 đồng (AS: 230/HSST). Ra trại ngày 27/2/2013 - Án chưa được xóa;
- Ngày 18/8/2014, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày phạm tội là 21/4/2014. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000 đồng (AS: 161/HSST). Ra trại ngày 21/7/2015 - Án chưa được xóa;
- Ngày 18/11/2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày phạm tội là 27/8/2015. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 400.000 đồng (AS: 231/HSST). Ra trại ngày 27/11/2016 - Án chưa được xóa;
- Ngày 27/02/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày phạm tội là 07/12/2016. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.500.000 đồng (AS: 27/HSST). Ra trại ngày 07/9/2017 - Án chưa được xóa;
- Ngày 26/4/2018, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày phạm tội là 24/01/2018. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.000.000 đồng. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm (AS: 27/HSST). Ra trại ngày 27/7/2020 - Án chưa được xóa;
Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Bắt phạm tội quả tang: 04/7/2022; Tạm giữ: 04/7/2022; Tạm giam: 10/7/2022. Số giam: 3396B2/21
Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số I - Công an thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa
Người bị hại: Anh Đoàn Văn H; Sinh năm: 1979; Trú tại: 22/22/284 ĐH, KA, HP.
Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/7/2022, anh Đoàn Văn H (sinh năm: 1979, trú tại: 22/22/284 ĐH, KA, HP) đang đứng chờ tại khu vực hành lang trước cửa phòng số 120 Tòa nhà D Bệnh viện Việt Đức thì Lê Văn T dùng tay trái đưa vào túi quần bên trái và định rút điện thoại trong túi quần của anh H. Lúc này, anh H đã giữ tay trái của T rồi hô hoán “Trộm, trộm” và cùng anh Nguyễn Thanh H (sinh năm: 1979, trú tại: xóm 1 xã NT, huyện NL, tỉnh NA) đưa T cùng tang vật về trụ sở công an phường Hàng Bông để giải quyết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 136 ngày 09/7/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra màu vàng 128Gb có giá trị là 10.500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, ban đầu Lê Văn T khai: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/7/2022, Thành đến Bệnh viện Việt Đức để khám bệnh và bị nghi là trộm cắp tài sản. Đến ngày 06/7/2022, T thay đổi và khai nhận: Sáng ngày 04/7/2022, Thành đến Bệnh viện Việt Đức với mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đến khu vực hành lang phòng số 120 tầng 1 nhà D thì phát hiện anh Đoàn Văn H đang đứng trước cửa phòng và bên trong túi quần trái có 01 chiếc điện thoại cảm ứng màu vàng. Lợi dụng đông người, T đã tiến đến phía sau lưng anh H rồi dùng tay trái để lấy chiếc điện thoại trong túi quần bên trái của anh H thì bị anh H phát hiện. Lúc này, T liền rút tay ra và định bỏ đi thì bị anh Nguyễn Thanh H đưa đến trụ sở công an phường Hàng Bông làm việc như đã nêu trên.
Người bị hại là anh Đoàn Văn H trình bày phù hợp với lời khai của Lê Văn T về việc bị trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 20 Ultra màu vàng vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/7/2022 tại khu vực trước cửa phòng số 120 Tòa nhà D, Bệnh viện Việt Đức, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Anh Hải mua chiếc điện thoại di động nêu trên với giá 27.300.000 đồng từ tháng 02/2022. Ngày 23/9/2022, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc điện thoại cho anh H. Sau khi nhận lại tài sản, anh H không có yêu cầu khác về dân sự.
Người làm chứng là anh Nguyễn Thanh H trình bày phù hợp với lời khai của Lê Văn T và người bị hại về việc anh H chứng kiến T trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 20 Ultra màu vàng vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/7/2022 tại khu vực trước cửa phòng số 120 Tòa nhà D, Bệnh viện Việt Đức, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Tại bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 07/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Lê Văn T về tội "Trộm cắp tài sản". Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 173; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra các đương sự đã có đầy đủ lời khai và việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về tội danh:
Bị cáo khai nhận tại phiên tòa về hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/7/2022, Lê Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 20 Ultra màu vàng có giá trị 10.500.000 đồng của anh Đoàn Văn H thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại khu vực trước cửa phòng số 120 Tòa nhà D, Bệnh viện Việt Đức, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Như vậy về tội danh bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản". Tội danh và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015.
. Trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe có khả năng lao động nhưng do ham lợi bất chính, muốn kiếm tiền nhanh chóng nên bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn công cộng và mất trật tự ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo có 02 tiền sự ngoài thời hiệu, 13 tiền án trong đó có 06 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm. Điều đó thể hiện thể hiện nhân thân rất xấu, đã được Nhà nước giáo dục nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nhiều lần, thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Dân sự: Tài sản đã được thu hồi trao trả cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
. Xử lý tang vật: Không. [6]. Về án phí: Bị cáo thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại - Anh Đoàn Văn H có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng:
+ Điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Lê Văn T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 04/7/2022.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Không.
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Thành.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại - Anh Đoàn Văn Hải có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Q.Hoàn Kiếm; - Công an Q.Hoàn Kiếm; - Thi hành án Q.Hoàn Kiếm; - TAND.TP Hà Nội; - VKSND TP.Hà Nội; - Lưu hồ sơ; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Hồng Hạnh |