vanban.org

Quyết định 210/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210 /2022/HS-ST
Ngày: 18-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhung

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Huyền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 194/TLST-HS ngày 8 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Th, tên gọi khác: không có; sinh năm 1996 tại TN; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 1, phường L, thành phố TN, tỉnh TN; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tử Th (đã chết) và con bà Vũ Thị L, sinh năm 1972; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ Hoàng Thị H, sinh năm 1994 (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2018.

Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh TN (có mặt).

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Trường L, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 11, phường G, thành phố TN, tỉnh TN

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ ngày 18/5/2022 tổ công tác của Công an phường G thành phố TN làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại trục đường Lưu Nhân Trú, thành phố TN. Khi đến khu vực tổ 11, phường G thì phát hiện có một người nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì người nam thanh niên này khai là Nguyễn Ngọc Th đồng thời tự giác giao nộp từ túi quần phía trước đang mặc 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa các tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng. Th khai nhận đó là ma túy đá và ma túy hồng phiến do Th mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành cân toàn bộ số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc Th có khối lượng là 0,302 gam cho vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định. Cân toàn bộ số viên nén màu hồng có khối lượng 0,203 gam, lấy toàn bộ số viên nén màu hồng niêm phong bì ký hiệu A2 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 725/KL- KTHS ngày 27/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

- Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,302 gam.

- Mẫu viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0.203 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc Th khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/5/2022, Th đi xe ôm từ nhà ở khu vực Tổ 1, phường L, thành phố TN đến khu vực đường tàu chợ Khu N thuộc tổ 11, phường G, thành phố TN tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Th gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa ma túy đá và 02 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng, sau đó cất gói ma túy mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, đứng đợi bắt xe ôm tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì tổ công tác công an phường G phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì ký hiệu A1, A2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, bản cáo trạng số 198/CT - VKSTPTN ngày 05/7/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Ngọc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1,A2.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/5/2022, Nguyễn Ngọc Thành bắt xe ôm đi đến khu vực đường tàu chợ khu Nthuộc tổ 11, phường G, thành phố TN mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy và 02 viên hồng phiến loại Methamphetamine có tổng khối lượng 505 gam với giá 500.000 đồng về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác công an phường G phát hiện bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ vật chứng.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,505 gam ma túy loại Methamphetmine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 198/CT - VKSTPTN ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.

...

c. Methamphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ được bố mẹ cho ăn học hết lớp 12 nhưng lại không chịu tu chí làm ăn mà đi vào con đường nghiện ngập, phạm tội. Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có nghiêm khắc.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù lẽ ra Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Vật chứng vụ án:

Số ma túy thu giữ của bị cáo và các vỏ bao thu giữ ban đầu, hoàn lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 cần tịch thu tiêu hủy.

. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Về nguồn gốc số ma túy loại Methamphetamine, Nguyễn Ngọc Th khai mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ họ, tên, địa chỉ) ở khu vực đường tàu chợ khu Nam, thuộc tổ 11, phường G, thành phố TN. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc Th 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,288 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 0,103 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định

- 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 250ngày 15 tháng 7 năm 2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ