vanban.org

Quyết định 21/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Phạm Hữu B.

Tuyên bố: Ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai - nay là phường L, thành phố Đ là đã chết. Ngày chết của ông Phạm Hữu B là ngày 10/7/2012. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Phạm Hữu B.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2026/QĐST-VDSĐồng Nai, ngày 25 tháng 8 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hoa

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Bùi Quang Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 92/2026/TLST – VDS ngày 26 tháng 01 năm 2026, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 375/2026/QĐST–VDS ngày 10 tháng 8 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1951. Nơi cư trú: số nhà E N, khu phố X, phường L, thành phố Đ.

Người được bà Nguyễn Thị Kim L ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng: Ông Thiêm Diên T, sinh năm 1960. Nơi cư trú: khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai - nay là khu phố X, phường L, thành phố Đ.

* Người bị yêu cầu: Ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đ).

*Những người tham gia tố tụng khác: Bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Kim N, sinh năm 1978. Cùng nơi cư trú: số nhà E N, khu phố X, phường L, thành phố Đ.

(Bà L, bà P và bà N có đơn yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu và lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc, bà Nguyễn Thị Kim L trình bày nội dung được tóm tắt như sau:

Bà L và ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đ) tự nguyện xây dựng gia đình và có đăng ký kết hôn vào năm 1967. Quá trình chung sống, bà và ông B có 07 người con chung ông Phạm Hữu M, sinh năm 1969; bà Phạm Thị Kim L1, sinh năm 1970; bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1971; bà Phạm Thị Kim A, sinh năm 1973; ông Phạm Hữu K, sinh năm 1976; bà Phạm Thị Kim N, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1980. Đến năm 1996, ông Phạm Hữu B bỏ nhà đi và không có tin tức gì từ đó cho đến nay. Ngày 23/06/2009, Toà án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai) tuyên bố ông Phạm Hữu B mất tích. Bà đã trình báo Công an địa phương, đã tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về ông Phạm Hữu B. Phần tài sản chung của vợ chồng bà vẫn do bà L trực tiếp quản lý. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà và các con theo quy định của pháp luật, bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu B là đã chết.

* Quá trình giải quyết vụ việc bà Phạm Thị Kim P và bà Phạm Thị Kim N có lời khai, nội dung được tóm tắt như sau:

Bà Phạm Thị Kim P và bà Phạm Thị Kim N là con ruột của ông B và bà L. Cha mẹ của bà P và bà N chung sống với nhau từ năm 1967, có 07 người con gồm bà P, bà N và 05 người nữa là ông Phạm Hữu M, sinh năm 1969, hiện nay ở TP ., bà P và bà N không biết địa chỉ cụ thể của ông M; bà Phạm Thị Kim L1, sinh năm 1970, hiện nay ở Mỹ, bà P và bà N không biết địa chỉ cụ thể của bà L1; bà Phạm Thị Kim A, sinh năm 1973, hiện nay ở Mỹ, bà P và bà N không biết địa chỉ cụ thể của bà A. Ông Phạm Hữu K, sinh năm 1976, bà P và bà N không biết ông K ở đâu và bà Phạm Thi Kim H1, sinh năm 1980, bà P và bà N không biết bà H1 ở đâu.

Năm 1996, ông Phạm Hữu B bỏ nhà đi và không có tin tức gì. Từ thời điểm đó đến nay bà P và bà N vẫn không có tin tức gì về ông Phạm Hữu B, không biết ông B ở đâu và còn sống hay đã chết. Ngày 23/06/2009, Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai đã tuyên bố ông Phạm Hữu B mất tích. Ngày 18/08/2009, Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai đã xử cho mẹ của bà P và bà N là bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Phạm Hữu B. Bà P và bà N thống nhất với lời trình bày của bà L về nội dung sự việc và thống nhất theo yêu cầu của bà L về việc đề nghị Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu B là đã chết.

* Tại phiên họp bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Kim P và bà Phạm Thị Kim N có đơn xin vắng mặt. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp công bố lời khai của các đương sự và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ việc.

* Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 - Đồng Nai phát biểu quan điểm về quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ, thời hạn mở phiên họp, cấp tống đạt các văn bản tố tụng thực hiện đúng quy định. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp, người yêu cầu thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ việc: Căn cứ vào đơn yêu cầu và lời khai của người yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L, lời khai của bà Phạm Thị Kim P và bà Phạm Thị Kim N là con ruột bà L, ông B; văn bản xác nhận của Công an phường L, tỉnh Đồng Nai - nay là thành phố Đ, có đủ căn cứ xác định: Ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946, có sinh sống thực tế thời gian trước tại hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kim L. Từ năm 1996 đến nay ông B không còn sống thực tế, đi đâu không rõ. Ngày 23/06/2009, Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai) tuyên bố ông Phạm Hữu B mất tích. Đồng thời, Tòa án đã đăng tin thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết theo đúng quy định pháp luật nhưng đến nay không có tin tức gì. Như vậy, việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu B là đã chết là có căn cứ.

Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L, tuyên bố ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đ) là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai nhận định:

Về quan hệ pháp luật giải quyết, quyền yêu cầu và thẩm quyền giải quyết:

Ngày 03/6/2025, bà Nguyễn Thị Kim L đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946. Nơi cư trú cuối cùng trước khi ông B biệt tích tại số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đ) là đã chết.

Theo Quyết định tuyên bố một người mất tích số 04/2009/DSST, ngày 23/6/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai và Bản án số 177/2009/DSST, ngày 18/8/2009 “V/v Xin ly hôn một bên mất tích” của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai thể hiện bà Nguyễn Thị Kim L và ông Phạm Hữu B đã từng đăng ký kết hôn, bà Nguyễn Thị Kim L là người có quyền, lợi ích liên quan nên bà L có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu B là đã chết.

Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ việc là “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Kim P và bà Phạm Thị Kim N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt.

Về nội dung yêu cầu:

Ông Phạm Hữu B và bà Nguyễn Thị Kim L từng là vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Ông, bà chung sống tại số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đ), đến năm 1996 thì ông B tự ý bỏ nhà đi và không có tin tức gì. Bà L không biết tung tích của ông B ở đâu, còn sống hay đã chết. Ông B đã được Toà án tuyên bố mất tích theo Quyết định tuyên bố một người mất tích số 04/2009/DSST, ngày 23/6/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, từ đó đến nay không có thông tin gì của ông B.

Nay bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông B là đã chết. Tại xác nhận ngày 27/02/2026 tại Công an phường L cung cấp, căn cứ hồ sơ tàng thư hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kim L thể hiện: Tháng 11/1990, ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946, có đăng ký thường trú tại hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kim L, địa chỉ khu X, thị trấn X (nay là phường L, thành phố Đ). Căn cứ biên bản kiểm tra hộ khẩu định kỳ ngày 21/4/2003 và bản kê khai danh sách những người đã được đăng ký thường trú hiện có của hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kim L, không thể hiện ông Phạm Hữu B trong danh sách thành viên hộ gia đình, không có hồ sơ thể hiện xóa đăng ký thường trú. Căn cứ vào Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu ngày 09/03/2006 và ngày 16/06/2020, không thể hiện ông Phạm Hữu B trong danh sách thành viên hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kim L. Tại Biên bản xác minh ngày 10/3/2026, Công an phường L, tỉnh Đồng Nai – nay là Công an phường L, thành phố Đ thể hiện “Từ năm 2009 đến nay, ông Phạm Hữu B, không về lại địa phương lần nào. Không ai biết ông B hiện đang ở đâu, hiện ông B không còn hộ khẩu tại địa phương”.

Trong quá trình xét đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai đã thông báo tìm kiếm thông tin người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đăng phát trên một trong các báo hàng ngày của Trung ương (B1 trong 03 số liên tiếp các ngày 02, 03 và 04 tháng 4 năm 2026; trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân, Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố Đ và Đ trong 03 ngày liên tiếp theo quy định tại Điều 385, Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác định là ông Phạm Hữu B còn sống hay đã chết. Lời khai của bà Phạm Thị Kim P và bà Phạm Thị Kim N là con của ông B và bà L về nội dung vụ việc và thời gian ông B biệt tích cũng phù hợp với lời khai bà L và những tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập được.

Do đó, đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu B đã chết là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về xác định ngày chết của ông Phạm Hữu B:

Tại Quyết định tuyên bố một người mất tích số 04/2009/DSST, ngày 23/6/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh đã tuyên bố ông Phạm Hữu B mất tích. Quyết định số 04/2009/DSST được ban hành ngày 23/6/2009. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định. Do đó, quyết định này có hiệu lực vào ngày 09/7/2009.

Căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự thì sau 03 năm liên tục kể từ ngày quyết định tuyên bố một người mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố người đó đã chết. Trong vụ việc này, thời hạn 03 năm, kết thúc vào ngày 09/7/2012. Ngày chết của ông Phạm Hữu B được xác định là ngày tiếp theo ngày kết thúc thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật, nên Tòa án xác định ngày chết của ông B là ngày 10/7/2012.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Kim L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27, Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 143, Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 68, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Phạm Hữu B.

Tuyên bố: Ông Phạm Hữu B, sinh năm 1946. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: số nhà E N, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai - nay là phường L, thành phố Đ là đã chết.

Ngày chết của ông Phạm Hữu B là ngày 10/7/2012.

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Phạm Hữu B được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Phạm Hữu B được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim L là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ