vanban.org

Quyết định 21/2024/QĐ-TA

TAND huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 08/11/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1992; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Vĩnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Quốc D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1992; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2024/QĐ - TAT, ngày 08 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu H

2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Phương Anh

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 21/QĐ - TA ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Quốc D, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1992; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Không

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết).

Con bà: Đinh Thị T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hữu T1 - Phó Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện T.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương: Bà Nguyễn Vân Anh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, Công an xã H trong quá trình làm nhiệm vụ đi tuần tại khu vực cây xăng thuộc thôn A xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, phát hiện Nguyễn Quốc D có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Công an xã đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với D, D tự khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy H1 và vừa sử dụng trái phép chất ma túy Heroin tại địa bàn xã H. Công an xã H đã đưa D về trụ sở Công an xã để làm việc và đề nghị Trạm y tế xã H xác định tình trạng nghiện ma túy đối với D. Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/10/2024 của Trạm y tế xã H, thể hiện Nguyễn Quốc D nghiện chất ma túy Heroin.

Cùng ngày 20/10/2024, Công an xã H đã lập biên bản giải thích cho D biết về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện theo Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Công an xã H đã tiến hành xác minh về cư trú của D tại Công an xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc và người thân của D, thể hiện từ tháng 02/2024 D không có mặt tại gia đình và địa phương, gia đình và địa phương không biết D làm gì, ở đâu. D không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình và địa phương xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 26/10/2024, Công an xã H đã có biên bản làm việc với Ủy ban nhân dân xã H, thể hiện Nguyễn Quốc D không đăng ký tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế với Ủy ban nhân dân xã H.

Theo quy định tại khoản 3, 6 Điều 41 Nghị định 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy, xác định Nguyễn Quốc D là người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định. Công an xã H đã thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D và các tài liệu liên quan cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D theo quy định.

Ngày 29/10/2024 Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội có văn bản số 22/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D.

Tại phiên họp:

Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động Thương binh và Xã hội giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D với thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D đảm bảo đúng trình tự thủ tục và đúng theo quy định của pháp luật. Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách người tham gia phiên họp đúng theo quy định, hồ sơ đảm bảo đầy đủ, phiên họp diễn ra đúng quy trình và tuân theo pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc căn cứ vào khoản 2 Điều 9, các Điều 95, 96, 103, 105, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D với thời hạn từ 20 tháng đến 22 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp và có đơn đề nghị vắng mặt.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D thấy rằng: Có đầy đủ tài liệu chứng minh Nguyễn Quốc D là đối tư ng nghiện chất ma túy, thủ tục đúng trình tự, thời hạn xử lý vi phạm hành chính cũng đư c đảm bảo. Cơ quan đề nghị đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng đối tư ng, hành vi vi phạm của người bị đề nghị. Hồ sơ lập đúng quy định tại các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 27, 28, 32 của Luật Phòng, chống ma túy và Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, có cơ sở xác định Nguyễn Quốc D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/10/2024 của Trạm y tế xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xác định Nguyễn Quốc D nghiện chất ma túy Heroin. Việc nghiện chất ma túy của D vi phạm vào khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Tại phiên họp Nguyễn Quốc D vắng mặt nhưng các tài liệu trong hồ sơ thể hiện D là người nghiện chất ma túy đã thành khẩn khai nhận về hành vi vi phạm của mình nên đư c hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Dân không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên D là người có nhân thân xấu, năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do vậy, với hành vi vi phạm nêu trên của Nguyễn Quốc D cần áp dụng Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D một thời gian nhất định là cần thiết, có căn cứ, phù h p với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc D, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1992; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có quyền kháng nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đư c Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc phối h p với Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ